vanban.org

Quyết định 435/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T đối với ông Huỳnh Văn L về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Lê Thị T và ông Huỳnh Văn L. Về nuôi con chung: Có 02 con chung thỏa thuận như sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T đối với ông Huỳnh Văn L về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 435/2018/HNGĐ-ST
Ngày 27/11/2018
V/v “Ly hôn,
tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN – TỈNH QUẢNG NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Hữu Tú

2. Ông Nguyễn Văn Tươi

Thƣ ký phiên tòa: Ông Đoàn Thế Nhân – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn: Bà Đinh Thị Thu Hòa – Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 11 năm 2018, tại Hội trường TAND thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 332/2018/TLST-HNGĐ, ngày 31/8/2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2018/QĐST-HNGĐ, ngày 29 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị T – Sinh năm 1995 (có mặt)

Nơi ĐKTT: Khối TN, phường ĐN, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Chỗ ở hiện nay: Khối CA4, phường ĐNĐ, thị xã Điện Bàn, Quảng Nam

2. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn L - Sinh năm 1996 (có mặt)

Địa chỉ: Khối TN, phường ĐN, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 30 tháng 8 năm 2018 và các lời khai tại Tòa nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày: Bà Lê Thị T và ông Huỳnh Văn L kết hôn vào ngày 09/5/2016, có đăng ký kết hôn tại UBND phường ĐN, thị xã Điện Bàn, kết hôn trên cơ sở tự nguyện.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà cha, mẹ chồng tại Điện Ngọc. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, không có tiếng nói chung, kinh tế vợ chồng khó khăn dẫn đến cãi vả, ông L thường xuyên nhậu nhẹt say sỉn về nhà gây gỗ đánh đập bà T nên bà T bỏ nhà chồng ra đi từ tháng 9/2018 đến nay. Tình cảm vợ chồng không còn nên bà T yêu cầu được ly hôn ông L.

Về con chung: Có 02 con chung tên là Huỳnh Văn L - Sinh ngày 27/10/2015 và Huỳnh Kiều V- Sinh ngày 20/8/2017. Hiện nay hai con đang sống cùng ông L, nay ly hôn bà T yêu cầu được nuôi cháu V, không yêu cầu cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

2. Ông Huỳnh Văn L trình bày: Trong quá trình chung sống bà T đã quan hệ ngoại tình với người khác ông L được biết bà T thường xuyên nhắn tin cho người đàn ông khác, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi vả nhau, ông L đã nhiều lần đánh đập bà T nhưng sau đó Công an phường Điện Ngọc mời lên khuyên bảo nên ông L đã thay đổi, bà T bỏ chồng con ra đi từ tháng 09/2018 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, bà T yêu cầu ly hôn ông L đồng ý thuận tình ly hôn.

Về con chung: Có 02 con chung là Huỳnh Văn L - Sinh ngày 27/10/2015 và Huỳnh Kiều V - Sinh ngày 20/8/2017. Hiện nay hai con đang sống cùng ông L, nay ly hôn ông L yêu cầu được nuôi cháu L, giao cháu V cho bà T nuôi, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Tóm tắt ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:

+ Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.

+ Về giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà T và ông L, giao cháu L cho ông L nuôi dưỡng, giao cháu V cho bà T nuôi dưỡng, hai bên tự lực nuôi con chung và được quyền thăm nom con chung sau ly hôn, không ai được cản trở.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Lê Thị T yêu cầu ly hôn và giải quyết con chung đối với ông Huỳnh Văn L, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS tranh chấp ly hôn và nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện. Ông L hiện nay cư trú tại phường ĐN, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Xét về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị T và ông Huỳnh Văn L kết hôn vào ngày 09/5/2016, có đăng ký kết hôn tại UBND phường ĐN, thị xã Điện Bàn, kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông L hợp pháp.

Trong quá trình chung sống vợ, chồng không tự vun đắp và gìn giữ hạnh phúc gia đình, không nhường nhịn nhau dẫn đến cãi vả và phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn được hai bên thừa nhận là do vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cải vả nhau và ông L đã nhiều lần đánh đập bà T, bà T bỏ chồng, con ra sống riêng từ tháng 9/2018 đến nay. Bà T yêu cầu ly hôn và được ông L đồng ý thuận tình ly hôn. Sự thỏa thuận của các đương sự hoàn toàn tự nguyện, nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên HĐXX công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà T và ông L là phù hợp với Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Xét về con chung: Vợ, chồng có 02 con chung Huỳnh Văn L - Sinh ngày 27/10/2015 và Huỳnh Kiều V- Sinh ngày 20/8/2017. Con chung hiện nay đang sống cùng ông L. Bà T yêu cầu được nuôi cháu V, ông L yêu cầu được nuôi cháu L. Ông L và bà T hiện nay có việc làm và thu nhập ổn định cả hai đều đảm bảo việc nuôi con chung và cả hai đã thỏa thuận việc nuôi con, thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với điều 82 Luật HNGĐ nên HĐXX chấp nhận giao cháu V cho bà T nuôi dưỡng, giao cháu L cho ông L tiếp tục nuôi dưỡng.

Về khoản cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu nên không xét. Ông L, bà T được quyền thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không xét.

Về án phí: Căn cứ Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội và Điều 4, Điều 147 BLTTDS thì bà T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 51, Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Phí và Lệ phí, Điểm a, Khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T đối với ông Huỳnh Văn L về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Lê Thị T và ông Huỳnh Văn L.

2. Về nuôi con chung: Có 02 con chung thỏa thuận như sau:

+ Giao con Huỳnh Văn L - Sinh ngày 27/10/2015 cho ông Huỳnh Văn L trực tiếp nuôi dưỡng.

+ Giao con Huỳnh Kiều V - Sinh ngày 20/8/2017 cho bà Lê Thị T trực tiếp nuôi dưỡng.

(Huỳnh Văn L và Huỳnh Kiều V hiện nay đang sống cùng ông Huỳnh Văn L)

Bà Lê Thị T, ông Huỳnh Văn L tự lực nuôi con chung và được quyền thăm nom con chung sau khi ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.

3. Về án phí: Bà Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0001504, ngày 31/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn. Bà Lê Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ