vanban.org

Quyết định 433/2024/QĐ-PT

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 18/12/2024 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/12/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 16/2024/QĐST-HC ngày 30/5/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Án phí phúc thẩm: ông Giang Thành L và bà Trần Thị H phải chịu 300.000đồng án phí hành chính phúc thẩm, được khấu trừ tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001518 ngày 28/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Khiếu kiện yêu cầu huỷ quyết định hành chính"
  • Tòa quyết gì? Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 16/2024/QĐST-HC ngày 30/5/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật Tố tụng Hành chính; Điều 143 Luật Tố tụng Hành chính; Điều 144 Luật Tố tụng Hành chính
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 433/2024/QĐ-PTĐà Nẵng, ngày 18 tháng 12 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO

ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: bà Trần Thị Kim Liên

Các Thẩm phán:

ông Lê Tự

ông Võ Ngọc Thông

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên họp: ông Lê Văn Thành - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 16/2024/QĐST-HC ngày 30/5/2024, Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã căn cứ vào khoản 5 Điều 38, khoản 2 Điều 116, Điều 143, Điều 144 của Luật Tố tụng Hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về “Khiếu kiện yêu cầu huỷ quyết định hành chính”, giữa:

- Người khởi kiện: ông Giang Thành L - sinh năm 1970 và bà Trần Thị H

- sinh năm 1969.

Trú tại: phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng.

Người đại diện theo uỷ quyền: ông Nguyễn Anh T - sinh năm 1983. Địa chỉ: số A đường C tháng D, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng (văn bản uỷ quyền ngày 17/7/2023).

- Người bị kiện:

+ Ủy ban nhân dân quận N, thành phố Đà Nẵng; địa chỉ: số D đường L, quận N, thành phố Đà Nẵng.

Người đại diện theo uỷ quyền: ông Mai N; chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận N, thành phố Đà Nẵng (văn bản uỷ quyền số 01/GUQ-UBND ngày 04/01/2024).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ủy ban nhân dân quận N: ông Nguyễn Văn T1; chức vụ: Bí thư Đảng uỷ phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng (nguyên Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường quận N); địa chỉ: số B đường H, quận N, thành phố Đà Nẵng.

+ Chi cục Thuế khu vực S; địa chỉ: số C đường T, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng.

Người đại diện theo uỷ quyền: ông Nguyễn Văn N1; chức vụ: Phó Chi cục trưởng Chi cục Thuế khu vực S - N (văn bản uỷ quyền ngày 30/01/2024).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Vùng 3 Hải quân; địa chỉ: số A đường Y, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng.

Người đại diện theo uỷ quyền: ông Đoàn Bảo A; chức vụ: Phó Tư lệnh Vùng 3 Hải quân (văn bản uỷ quyền ngày 25/12/2023).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Vùng 3 Hải quân: ông Đỗ Thành N2 - sinh năm 1958 và ông Nguyễn Huy H1 - Luật sư của Công ty L1 và Cộng sự thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ; địa chỉ: số B đường T, quận T, thành phố Đà Nẵng.

+ Ủy ban nhân dân thành phố Đ; địa chỉ: số B đường T, quận H, thành phố Đà Nẵng.

Người đại diện theo uỷ quyền: ông Võ Nguyên C; chức vụ: Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ (văn bản uỷ quyền số 02/UQ-UBND ngày 26/01/2024).

+ Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ; địa chỉ: số B đường T, quận H, thành phố Đà Nẵng.

Người đại diện theo uỷ quyền: ông Nguyễn Thanh H2; chức vụ: Giám đốc chi nhánh Văn phòng Đ tại quận N, thành phố Đà Nẵng; địa chỉ: số D đường C, quận N, thành phố Đà Nẵng (văn bản uỷ quyền số 01/GUQ-STNMT ngày 03/01/2024).

+ Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Đ; địa chỉ: số A đường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.

Người đại diện theo uỷ quyền: ông Phan Anh T2; chức vụ: Trưởng phòng Phòng Quản lý và phát triển quỹ đất thuộc Trung tâm P (văn bản uỷ quyền số 07/GUQ-TTPTQĐ ngày 11/6/2024).

+ Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ; địa chỉ: số E đường Q, quận H, thành phố Đà Nẵng.

Người đại diện theo uỷ quyền: ông Văn Tiến D; chức vụ: Phó Giám đốc chi nhánh Văn phòng Đ tại quận N, thành phố Đà Nẵng; địa chỉ: số D đường C, quận N, thành phố Đà Nẵng (văn bản uỷ quyền số 3039/GUQ-VPĐKĐĐ ngày 28/12/2023).

Tại đơn kháng cáo đề ngày 18/6/2024, người khởi kiện ông Giang Thành L và bà Trần Thị H kháng cáo toàn bộ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính nói trên với lý do thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

Tại phiên họp phúc thẩm: đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng cho rằng ông Lê, bà Hải được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 12/10/2021 nhưng đến ngày 10/11/2023 ông L, bà H mới gửi đơn khởi kiện đến Toà án là đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng Hành chính nên Toà án cấp sơ thẩm Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án do hết thời hiệu khởi kiện là đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người khởi kiện ông Giang Thành L, bà Trần Thị H, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 16/2024/QĐST-HC ngày 30/5/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

XÉT THẤY:

Ông Giang Thành L, bà Trần Thị H khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết: hủy nội dung “Theo quy định của pháp luật hiện hành” tại gạch đầu dòng thứ 4, Điều 1, mục “Giá đất, tiền sử dụng đất phải nộp” của Quyết định số 167/QĐ-UBND ngày 14/01/2020 của UBND quận N; buộc UBND quận N ban hành lại Quyết định áp giá đất, tiền sử dụng đất phải nộp theo Điều 5 Quyết định số 06/2019/QĐ-UBND ngày 31/01/2019 của Ủy ban nhân dân thành phố Đ để xác định nghĩa vụ tài chính đối với ông L và bà H tại lô đất số 70, phân khu B, khu gia đình quân nhân Vùng 3 Hải quân (sân bay N) thuộc phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng; hủy 02 Thông báo của Chi cục Thuế khu vực S - N, gồm: Thông báo nộp phí trước bạ nhà, đất số LTB2050107-TK0002556/TB-CCT ngày 21/4/2020 và Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2050107-TK0002557/TB-CCT ngày 21/4/2020.

Hội đồng xét xử thấy rằng: ông Giang Thành L, bà Trần Thị H nhận được Quyết định số 167/QĐ-UBND ngày 14/01/2020 của Ủy ban nhân dân quận N về việc giao đất tại lô đất số 70, diện tích 90m2, phân khu B2.4 khu gia đình quân nhân Vùng 3 Hải quân (sân bay N) thuộc phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng và đã nhận được các Thông báo nêu trên của Chi cục Thuế khu vực S - N. Sau khi hoàn thành các nghĩa vụ tài chính, ông L, bà H đã được UBND quận N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 913323 vào ngày 12/10/2021. Đến ngày 10/11/2023, ông L, bà H mới gửi Đơn khởi kiện đến Tòa án là quá 01 năm. Do đó, vụ án thuộc trường hợp thời hiệu khởi kiện đã hết theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng Hành chính. Toà án cấp sơ thẩm ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính là đúng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 143 của Luật Tố tụng Hành chính. Vì vậy, Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông L, bà H như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 16/2024/QĐST-HC ngày 30/5/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

Về án phí phúc thẩm: do nội dung kháng cáo không được chấp nhận nên ông Giang Thành L, bà Trần Thị H phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 34 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 243 của Luật Tố tụng Hành chính,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 16/2024/QĐST-HC ngày 30/5/2024 của Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

2. Án phí phúc thẩm: ông Giang Thành L và bà Trần Thị H phải chịu 300.000đồng án phí hành chính phúc thẩm, được khấu trừ tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001518 ngày 28/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

* Nơi nhận:

Cỡ chữ