- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Thúy A yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn M"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy A.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 115 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 430/2018/HNGĐ–ST Ngày 24-7-2018. V/v tranh chấp “ Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ – TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thanh Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Văn Hai
2. Ông Phạm Văn Vũ.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú - tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Phú Quí-Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 296/2018/TLST–HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2018 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1502/2018/QĐST–HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 1991; địa chỉ: 130/2 ấp AĐ, xã AĐ, huyện P, tỉnh Bến Tre. Chị A có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Nguyễn Văn M, sinh năm 1989; địa chỉ: 54/4 ấp AK, xã M, huyện P, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn Nguyễn Thị Thúy A trình bày:
Vào năm 2013 chị và anh M được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới; hôn nhân tự nguyện; chị và anh M có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã An Điền, huyện Thạnh Phú và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 16/9/2013. Trong thời gian chung sống chị và anh M có 01 con chung tên Nguyễn Thị Quỳnh G, sinh ngày 08/7/2013; hiện con chung đang sống chung với anh M.
Chị và anh M không tạo lập được tài sản chung; nợ chung: không có.
Lý do chị và anh M không còn sống chung: khoảng năm 2015 anh M thường xuyên chơi cờ bạc ăn thua bằng tiền, chị và gia đình nhiều lần can ngăn nhưng anh M không thay đổi; anh M nhiều lần đánh đập và đuổi chị khỏi nhà vào năm 2015. Từ năm 2015 cho đến nay chị và anh M không còn sống chung và không còn quan tâm chăm sóc cho nhau do mỗi người đi làm một nơi. Gia đình hai bên không có ý kiến gì do hôn nhân của anh, chị để anh, chị tự quyết định.
Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về hôn nhân: chị yêu cầu ly hôn với anh M. Khi ly hôn chị không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng cho chị.
- Về con chung: chị đồng ý giao con chung tên Nguyễn Thị Quỳnh G, sinh ngày 08/7/2013 cho anh M trực tiếp nuôi và chị không cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: không có không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: không có yêu cầu giải quyết.
Ngày 10/7/2018 chị Nguyễn Thị Thúy A có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Bị đơn Nguyễn Văn M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh M vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị A và cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về trình tự, thủ tục: Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ lời trình bày của chị A và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xét thấy: từ năm 2015 đến nay chị A và anh M không còn sống chung, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, cả hai không có thiện chí hàn gắn tình cảm. Do đó có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa chị A và anh M lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 115 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị A.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật
1 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự
Về thẩm quyền: anh Nguyễn Văn M có đăng ký hộ khẩu tại 54/4 ấp AK, xã M, huyện P, tỉnh Bến Tre nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a k Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt cho anh M các văn bản tố tụng theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh M đều vắng mặt theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh M theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: năm 2013 chị A và anh M tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã An Điền, huyện Thạnh Phú và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 16/9/2013. Do đó, việc kết hôn và đăng ký kết hôn của chị A và anh M là phù hợp với quy định của pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Năm 2015 chị A và anh M phát sinh mâu thuẫn do anh M thường xuyên chơi cờ bạc ăn thua bằng tiền, chị A và gia đình nhiều lần can ngăn nhưng anh M không thay đổi; anh M nhiều lần đánh đập và đuổi chị A ra khỏi nhà vào năm 2015. Từ năm 2015 cho đến nay chị A và anh M không còn sống chung và không còn quan tâm chăm sóc cho nhau do mỗi người đi làm một nơi. Gia đình hai bên không có ý kiến gì do hôn nhân của anh, chị để anh, chị tự quyết định. Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần các văn bản tố tụng cho anh M để anh M đến tham gia phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham dự phiên tòa nhưng anh M không đến và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cũng như không đưa ra ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa chị A và anh M lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy yêu cầu xin ly hôn của chị A là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do chị A không yêu cầu anh M cấp dưỡng khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.
Về con chung: chị A và anh M có một con chung tên Nguyễn Thị Quỳnh Giao, sinh ngày 08/7/2013; khi ly hôn chị A đồng ý giao con chung cho anh M trực tiếp nuôi và chị A không cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy: từ khi chị A và anh M không còn sống chung cho đến nay anh M là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung; con chung có sự phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Do đó để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình cần giao con chung tên Nguyễn Thị Quỳnh Giao cho anh M tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con sau khi ly hôn là phù hợp. Do anh M vắng mặt tại phiên tòa và không yêu cầu chị A phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết. Chị Nguyễn Thị Thúy A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị Nguyễn Thị Thúy A có thể yêu cầu thay đổi việc nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, anh Nguyễn Văn M có thể yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: chị A trình bày không có nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: không có nên không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị Nguyễn Thị Thúy A phải nộp án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, 39, 147 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 115 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy A.
1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Nguyễn Thị Thúy A. Chị Nguyễn Thị Thúy A được ly hôn với anh Nguyễn Văn M. Do chị A không yêu cầu anh M cấp dưỡng khi ly hôn nên không xem xét giải quyết.
2. Về con chung: anh Nguyễn Văn M được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Thị Quỳnh G, sinh ngày 08/7/2013. Do anh M không yêu cầu chị A phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.
Chị Nguyễn Thị Thúy A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Khi cần thiết chị Nguyễn Thị Thúy A có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và cấp dưỡng nuôi con, anh Nguyễn Văn M có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung: chị A trình bày không có nên không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: không có nên không xem xét giải quyết.
5. Veà aùn phí hôn nhân và gia đình sơ thaåm: chị Nguyễn Thị Thúy A phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0014369 ngày 12 tháng 3 năm 2018 và đã nộp xong.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định.
| Nơi nhận: -VKSND huyện; - TAND tỉnh; - Đương sự; - Chi cục THADS huyện; - UBND xã An Điền; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Cao Thanh Minh |