vanban.org

Quyết định 43/2024/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông L. V. N về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”.

Tuyên bố bà L. T. T, sinh năm 1969, địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú và địa chỉ nơi cư trú: khu phố X, phường Y, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh là người mất năng lực hành vi dân sự. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: ông L. V. N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "ông L. V. N yêu cầu tuyên bố bà L. T. T mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông L. V. N về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”.
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 43/2024/QĐST-DSTrảng Bàng, ngày 11 tháng 7 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Yến.

Thư ký phiên họp: Bà Bùi Thị Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tham gia phiên họp: Ông Trần Tấn Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 43/2024/TLST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 52/2024/QĐST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông L. V. N, sinh năm 1969; địa chỉ: khu phố X, phường Y, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà L. T. Q, sinh năm 1953; địa chỉ: khu phố A, phường B, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

- Bà L. T. X, sinh năm 1976; địa chỉ: Số 84, Khu phố 1, phường Y, thị xã H, tỉnh Tây Ninh (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án án giải quyết: Yêu cầu tuyên bố bà L. T. T, sinh năm 1969, địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú và địa chỉ nơi cư trú: khu phố X, phường Y, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh là người mất năng lực hành vi dân sự.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và các lời khai trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu – ông L. V. N trình bày:

Bà L. T. T là chị ruột của ông. Từ khi sinh ra, bà T đã chậm phát triển, ít nói, không tiếp xúc với ai, khi lớn lên thì bệnh càng nặng hơn, không đi được và cũng không còn nói được nữa nên không có khả năng học tập, khi trưởng thành cũng không biết làm việc, vệ sinh cá nhân cũng cần người trợ giúp, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi bị hạn chế. Hiện bà T đang được hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng dạng khuyết tật.

Khi còn sống, cha mẹ ông có tạo lập được tài sản là quyền sử dụng đất tọa lạc tại khu phố X, phường Y, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Nay cha mẹ ông đều đã chết và chị, em ông có nguyện vọng phân chia tài sản của cha mẹ để lại nhưng bà T không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên ông yêu cầu Tòa án tuyên bố bà bị mất năng lực hành vi dân sự, mục đích để chị, em của ông hoàn tất thủ tục chia di sản thừa kế.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà L. T. Q, bà L. T. X thống nhất toàn bộ lời trình bày của ông N và đồng ý yêu cầu tuyên bố bà T mất năng lực hành vi dân sự.

* Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký phiên họp đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc giải quyết việc dân sự; người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết việc dân sự: căn cứ Điều 22 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng giải quyết việc dân sự chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của ông L. V. N. Tuyên bố bà L. T. T, sinh năm 1969, địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú và địa chỉ nơi cư trú: khu phố X, phường Y, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh là người mất năng lực hành vi dân sự. Về lệ phí: ông N phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: ông N yêu cầu tuyên bố bà mất năng lực hành vi dân sự nên đây là việc dân sự về “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà T có nơi cư trú tại khu phố X, phường Y, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: ông L. V. N, bà L. T. Q, bà L. T. X vắng mặt tại phiên họp nhưng đã có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt ông N, bà Q, bà X là phù hợp.

Về nội dung yêu cầu: Xét yêu cầu của ông N, thấy rằng: qua lấy lời khai ông N và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Q, bà X, các đương sự đều thống nhất trình bày từ khi sinh ra bà T đã chậm phát triển, ít nói, không có khả năng lao động, học tập, không tiếp xúc với người ngoài, khi lớn lên thì ngồi một chỗ, không đi được nữa và mọi sinh hoạt cá nhân đèu phụ thuộc vào người thân. Ông N và những người liên quan đều thống nhất đề nghị tuyên bố bà T mất năng lực hành vi dân sự để làm thủ tục chia thừa kế về tài sản.

Ngày 27/5/2024, Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 07/2024/QĐ-TA Trưng cầu Viện Pháp y Tâm thần Trung ương Biên Hoà thực hiện giám định năng lực hành vi dân sự của bà Lê Thị Tài. Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 393/KL-VPYTW ngày 12/6/2024 của Viện Pháp y Tâm thần Trung ương Biên Hoà kết luận: về y học: hiện nay bà T bị bệnh chậm phát triển tâm thần nặng (F72/Q90-ICD.10); về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: hiện nay bà T mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Do đó, có đủ cơ sở để tuyên bố bà L. T. T bị mất năng lực hành vi dân sự theo Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, yêu cầu tuyên bố bà bị mất năng lực hành vi dân sự của ông Lê Văn No là có căn cứ chấp nhận.

Về lệ phí: ông L. V. N phải chịu lệ phí sơ thẩm yêu cầu giải quyết việc dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về chi phí trưng cầu giám định: Chi phí giám định pháp y tâm thần đối với bà Tài là 4.333.750 đồng. Ông N là người yêu cầu giải quyết việc dân sự nên phải chịu chi phí trưng cầu giám định theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng là có căn cứ nên chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 367, 369, 370, 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 22 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

1. Chấp nhận yêu cầu của ông L. V. N về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”.

Tuyên bố bà L. T. T, sinh năm 1969, địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú và địa chỉ nơi cư trú: khu phố X, phường Y, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh là người mất năng lực hành vi dân sự.

2. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: ông L. V. N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí ông No đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015425 ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, ghi nhận ông N đã nộp đủ lệ phí.

3. Về chi phí trưng cầu giám định: ông L. V. N phải chịu 4.333.750 (Bốn triệu ba trăm ba mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi) đồng chi phí giám định pháp y tâm thần, ghi nhận ông N đã nộp xong chi phí giám định.

4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

Ông N, bà Q, bà X có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Cỡ chữ