vanban.org

Quyết định 43/2024/QĐCNTTLH — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 02 tháng 10 năm 2024, cụ thể như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Tẩn Thị H và anh Tẩn Thìn N nhất trí thuận tình ly hôn. Về con chung: Chị Tẩn Thị H và anh Tẩn Thìn N xác nhận có 01 con chung và thống nhất chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Tẩn Thị N, giới tính: Nữ, sinh ngày 10/12/2021 cho đến khi đủ 18 tuổi. An… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tẳn Thị H - Tần Thìn N"
  • Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 02 tháng 10 năm 2024, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Q
TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 43/2024/QĐCNTTLHQ, ngày 18 tháng 10 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC BÊN THAM GIA HÒA GIẢI TẠI TÒA ÁN Căn cứ vào các Điều 32, 33, 34 và Điều 35 của Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của chị Tẩn Thị H và anh Tẩn Thìn N; Sau khi nghiên cứu:

- Đơn khởi kiện đề ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc yêu cầu ly hôn của chị Tẩn Thị H.

- Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải sau đây: Người khởi kiện: Chị Tẩn Thị H, sinh năm 2001; Số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: Thôn L, xã Q , huyện Q, tỉnh Hà Giang. Người bị kiện: Anh Tẩn Thìn N, sinh năm 1990; Số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: Thôn L, xã Q , huyện Q, tỉnh Hà Giang.

- Các tài liệu theo Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải do hòa giải viên chuyển sang Tòa án và các tài liệu do Tòa án thu thập được theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 02 tháng 10 năm 2024 có đủ các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 02 tháng 10 năm 2024, cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Tẩn Thị H và anh Tẩn Thìn N nhất trí thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Chị Tẩn Thị H và anh Tẩn Thìn N xác nhận có 01 con chung và thống nhất chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Tẩn Thị N, giới tính: Nữ, sinh ngày 10/12/2021 cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh N có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng)/tháng. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 11/2024 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Phương thức cấp dưỡng theo tháng, đến ngày cuối cùng của tháng anh N phải thanh toán xong cho chị H số tiền trên. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp có quy định khác. Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

- Về tài sản, công nợ chung: Chị Tẩn Thị H và anh Tẩn Thìn N tự thoả thuận, không đề nghị giải quyết. 2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Cỡ chữ