vanban.org

Quyết định 43/2023/QĐ-TA

TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 15/06/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95, 96, 103, 104 và Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy và Nghị định số 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi…

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Họ và tên: Phạm Văn T, sinh năm 1987; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Họ và tên: Phạm Văn T, sinh năm 1987; Nơi ĐKHKTT: Xó…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95, 96, 103, 104 và Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy và Nghị định số 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi…
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 43/2023/QĐ-TAĐại Từ, ngày 15 tháng 6 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành Chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

- Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Bà Lê Thị Giang

- Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thủy Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Ngày 15 tháng 6 năm 2023, tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành Chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 43/2023/QĐ-TA ngày 05 tháng 6 năm 2023, đối với:

Họ và tên: Phạm Văn T, sinh năm 1987;

Nơi ĐKHKTT: Xóm P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định, hiện đang bị quản lý tại cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên.

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Phạm Văn T và bà: Phạm Thị M. Tiền án, tiền sự: Không.

(Có mặt tại phiên họp)

Có sự tham gia của:

- Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Quân Anh; Chức vụ: Chuyên viên Phòng Lao động Thương Binh và Xã hội huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ: Ông Nguyễn Thành Đạt - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Tại bản tường trình và lời trình bày tại phiên họp của người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đã xác định: Phạm Văn T có hộ khẩu thường trú tại Xóm P, xã P, huyện Đ, là đối tượng mắc nghiện ma túy từ năm 2018, loại ma túy thường sử dụng là ma túy Heroine, sử dụng bằng hình thức hít, tần xuất sử dụng ma túy là 2 đến 3 ngày sử dụng 01 lần. Lần gần nhất T sử dụng ma túy là vào ngày 21/3/2023.

Tại Biên bản kiểm tra xét nghiệm ma túy ngày 22/3/2023 tại Trạm y tế xã P xác định T có sử dụng trái phép chất ma túy, dương tính với ma túy. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 22/3/2023 của Bệnh viện đa khoa huyện Đ có kết quả xét nghiệm đối với Phạm Văn T xác định: Phạm Văn T có nghiện chất ma túy.

Ngày 30/3/2023, Công an xã P lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Phạm Văn T. Tại biên bản làm việc ngày 22/03/2023 Công an xã P đã thông báo cho T biết trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày lập biên bản anh T phải đi đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, tuy nhiên hết thời hạn 05 ngày anh T đã không đăng ký cai nghiện theo các hình thức trên.

Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị: Tại phiên họp, phòng Lao động thương binh xã hội huyện Đ giữ nguyên quan điểm tại Văn bản số 221/ĐN-CNBB ngày 04/5/2023, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Phạm Văn T vào Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên trong thời hạn từ 15 đến 18 tháng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ: Việc thiết lập hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động, thương binh và xã hội huyện Đ về việc đưa công dân Phạm Văn T vào cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên là đúng quy định, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng. Việc chấp hành pháp luật của Toà án kể từ khi thụ lý hồ sơ giải quyết đến khi mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính là đảm bảo đúng luật, đúng thời gian cũng như thành phần tham gia phiên họp và trình tự tố tụng theo hướng dẫn tại Pháp lệnh trình tự xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án. Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T với thời hạn từ 15 đến tháng.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có tại hồ sơ đề nghị và ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, cơ quan lập hồ sơ và Kiểm sát viên tham gia phiên họp, nhận thấy:

- Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành Chính tại Tòa án nhân dân, Điều 9 của Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

- Về thời hiệu: Ngày 22/3/2023, Công an xã P, huyện Đ phối hợp với Bệnh viện đa khoa huyện Đ kiểm tra tình trạng sử dụng chất ma túy đối với Phạm Văn T, kết quả cho thấy T có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Heroine. Bản thân T xác định lần sử dụng ma túy gần đây nhất là ngày 21/3/2023. Vì vậy, ngày 30/3/2023 Công an xã P đã lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với T. Như vậy, đã thực hiện đúng và trong thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Về hồ sơ đề nghị áp dụng: Đã có đầy đủ các tài liệu theo quy định tại Điều 103, khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 41 Nghị định 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và trình bày của cơ quan đề nghị, ý kiến của Kiểm sát viên, người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nhận thấy:

Bản thân Phạm Văn T nghiện ma túy từ năm 2018, lần sử dụng ma túy gần nhất là ngày 21/3/2023. Tại Biên bản kiểm tra xét nghiệm ma túy ngày 22/3/2023 tại Trạm y tế xã P xét nghiệm ma túy bằng nước tiểu xác định T có sử dụng trái phép chất ma túy. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 22/3/2023 của Bệnh viện đa khoa huyện Đ có kết quả xét nghiệm đối với Phạm Văn T xác định: Phạm Văn T có nghiện chất ma túy.

Công an xã P đã lập biên bản làm việc để thông báo cho Phạm Văn T biết về việc trong thời hạn 05 ngày (kể từ ngày 22/03/2023) anh T phải đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc cai nghiện bằng thuốc thay thế, tuy nhiên đã hết thời hạn 05 ngày anh T không thực hiện việc đăng ký cai nghiện theo các hình thức trên. Ngày 30/3/2023, Công an xã P đã lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với T.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Văn T là trái quy định của pháp luật, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về ma tuý, làm tệ nạn ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng xấu đến việc phòng chống tệ nạn xã hội của Nhà nước nên cần thiết áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với anh T.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với Phạm Văn T thấy: Trong quá trình lập hồ sơ Phạm Văn T đã tự nguyện khai báo, nhận thức được hành vi vi phạm của mình là vi phạm pháp luật, đây được coi là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính, Phạm Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 10 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Như vậy, đã có đủ căn cứ để xác định anh Phạm Văn T là người: “Không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện” theo quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật phòng, chống ma túy.

Xét đề nghị Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Đ về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Văn T với thời gian từ 15 đến 18 tháng là có căn cứ phù hợp các quy định pháp luật nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95, 96, 103, 104 và Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy và Nghị định số 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;

- Khoản 1 Điều 3; các Điều 21, 23, 24, 30, 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số: 03/2022/UBTVQH13 ngày 13 tháng 12 năm 2022 quy định về: Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Nghị quyết số: 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:

Họ và tên: Phạm Văn T, sinh năm 1987; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm P, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (Mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị đưa đến cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định của Tòa án.

Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị Quyết định thực hiện theo quy định tại Điều 33 của pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định này: Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội huyện Đ phối hợp với Công an huyện Đ đưa người phải chấp hành Quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ