- Tranh chấp gì? án dân sự — "tranh chấp hợp đồng mua bán"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lý Tạt V, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 17/2023/DS-ST ngày 12/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2023/DS-PT Ngày: 29/8/2023 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bá Lưu
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nghĩa và bà Từ Thị Hải Dương
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh Thuý – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà : Ông Nguyễn Văn Sáng - Kiểm sát viên.
Ngày 29/8/2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 32/2023/TLPT- DS ngày 22/6/2023 về tranh chấp hợp đồng mua bán, do Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2023/DS – ST ngày 12 tháng 5 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2679/2023/QĐ-PT ngày 04/8/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV máy chế biến gỗ H; địa chỉ: Số 19 đường Hai Bà T, khu phố Đông B, phường Đồng Hòa, thành phố D, tỉnh Bình Dương (địa chỉ mới: Khu phố Tân Hội, phường Tân H, thị xã Tân U, tỉnh Bình Dương – Hằng P ngay cầu Tân Hội); đại diện theo pháp luật: Bà Thòng Nhịt K – Giám đốc; đại diện theo ủy quyền ông: Trần Chí Cường, sinh năm: 1992 (Theo Giấy ủy quyền ngày 26/8/2023/UQ); địa chỉ: Thuận T, S, T, Đồng Nai; có mặt.
- Bị đơn: Ông Lý Tạt V, sinh năm: 1984; HKTT: T, xã B, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; địa chỉ cần báo:Số 363 đường Nguyễn Thị Đ, thôn Trung B, xã Bảo N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông V: Luật sư Trương Quang T – Công ty Luật TNHH một thành viên Trương Quang T, Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Bình; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Zhang J – Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV máy chế biến gỗ H; địa chỉ: Số 19 đường Hai B, khu phố Đông B, phường Đồng H, thành phố D, tỉnh Bình Dương (địa chỉ mới: Khu phố Tân H, phường Tân H, thị xã Tân U, tỉnh Bình Dương – Hằng P ngay cầu Tân Hội); vắng mặt.
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Mai H, sinh năm: 1991; địa chỉ: Số 363 đường Nguyễn Thị Đ, thông Trung B, xã Bảo N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện đề ngày 30/3/2021, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn trình bày: Ngày 25/9/2020, Công ty TNHH MTV Máy chế biến gỗ H(sau đây gọi là Công ty Hằng Phong) và ông Lý Tạt Vký Hợp đồng kinh tế số 20200925/HĐKT với nội dung Công ty Hbán cho ông Lý Tạt V01 máy cắt, 02 máy CNC, 01 máy cắt gỗ nguyên khối với tổng số tiền là 1.640.000.000 đồng. Thực hiện hợp đồng, Công ty Hđã giao nhận đủ số máy cho ông Lý Tạt V(có phiếu giao hàng) cùng với bản ảnh lưu tại điện thoại việc xe ô tô của ông V đã nhận đủ số máy đã giao. Theo nội dung Hợp đồng, ông Lý Tạt Vphải thanh toán 100.000.000 đồng ngay sau khi ký hợp đồng nhưng ông V xin trả chậm ít hôm. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại ông V chưa thanh toán 100.000.000 đồng như đã thoả thuận cùng với số tiền còn phải thanh toán cho Công ty Htrong thời hạn 16 tháng, mỗi tháng thanh toán 96.250.000 đồng. Mặc dù Công ty Hđã nhiều lần gửi văn bản yêu cầu trả nợ nhưng ông V cố tình trì hoãn, né tránh, không thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Nay Công ty Hkhởi kiện đề nghị Toà án buộc ông V phải thanh toán cho Công ty Htổng số tiền là 1.776.666.000 đồng, trong đó, nợ gốc là 1.640.000.000 đồng và khoản lãi phát sinh do chậm thanh toán từ tháng 9/2020 đến tháng 7/2021 là 10 tháng, với mức lãi suất 10%/năm là 1.640.000.000 đồng x (10%/12) x 10 tháng = 136.666.000 đồng, không yêu cầu tính tiền lãichậm thanh toán đến giai đoạn xét xử.
* Tại bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơnông Lý Tạt V trình bày: Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Việc ký hợp đồng giữa Công ty Hvà ông V thực hiện khi Công ty Hchỉ đóng dấu đỏ của Công ty Hằng Phong, mà thực tế ông V chỉ làm việc trực tiếp với ông Zhang Zun. Ông V không biết bà Thòng Nhịt Klà ai. Sau khi ký hợp đồng, ông V phát hiện nội dung hợp đồng không chính xác về mã số máy móc và việc nhận máy móc thực tế. Ông V có yêu cầu Công ty Hsửa lại Hợp đồng nhưng phía Công ty Hkhông sửa. Do việc ký Hợp đồng và giao nhận máy tiến hành cùng lúc nhưng thực tế ông V chỉ nhận được 02 máy vào ngày 23/9/2020, chứ không phải 04 máy như trên bản Hợp đồng. Sau đó ngày 26/11/2020, ông V có trả lại 01 máy CNC vì không sử dụng được (có phiếu ra cổng chứng minh đã xuất 01 máy CNC đó ra khỏi Công ty). Chỉ có sử dụng 01 máy uốn đầu CNC giá trị 330.000.000 đồng. Sau đó, ông V đã trả cho Công ty Hsố tiền 100.000.000 đồng. Như vậy, số tiền mà ông V còn nợ Công ty H là 230.000.000 đồng. Tuy nhiên, số tiền này còn liên quan đến việc Công ty H thuê công xưỡng của bên vợ ông V là bà Nguyễn Thị Mai H.Đề nghị Toà án căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ của vụ án để xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
* Tại bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Zhang Jun – Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Máy chế biến gỗ Htrình bày: Ông là Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Máy chế biến gỗ Htheo Quyết định bổ nhiệm số 01/2020 ngày 27/7/2020 và Giấy ủy quyền số 01/2020 ông được bà Thòng Nhịt Klà người đại diện theo pháp luật của Công ty ủy quyền với nội dung và phạm vi ủy quyền là “… được thực hiện tất cả các giao dịch liên quan đến hoạt động sản xuất của Công ty, giao kết hợp đồng thương mại, Hợp đồng lao động”. Vào ngày 25/9/2020, trong phạm vi ủy quyền ông đã đại diện Công ty giao kết hợp đồng kinh tế với ông Lý Tạt V. Theo như Hợp đồng thì công ty có bán cho ông Lý Tạt Vvới số lượng: 01 máy cắt, 02 máy CNC, 01 máy cắt gỗ nguyên khối với tổng số tiền là 1.640.000.000 đồng. Bên Công ty Hđã giao đủ số máy cho ông V theo như thỏa thuận trong hợp đồng ký kết (có phiếu giao hàng). Theo nội dung Hợp đồng ông V phải thanh toán 100.000.000 đồng ngay sau khi giao kết hợp đồng, nhưng ông V xin trả chậm ít hôm. Đến thời điểm hiện tại thì ông Lý Tạt Vvẫn chưa thanh toán 100.000.000 đồng như đã thỏa thuận trong hợp đồng cùng với số tiền còn lại ông Lý Tạt Vphải thanh toán cho Công ty Htrong thời hạn 16 tháng, mỗi tháng thanh toán 96.250.000 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình soạn Hợp đồng, do thiếu cẩn thận nên nhân viên công ty đã soạn Hợp đồng có đề bên bán là Công ty TNHH Một thành viên máy chế biến gỗ H– Đại diện là bà Thòng Nhịt Kmà không bổ sung tên ông được ủy quyền ký hợp đồng vào. Mặc dù không kiểm tra kỹ về mặt hình thức của Hợp đồng này mà đã ký, nhưng thực tế việc giao kết Hợp đồng và thực hiện hợp đồng này là có trên thực tế. Chính ông là người được ủy quyền ký hợp đồng và các nội dung trong Hợp đồng này hoàn toàn không vượt quá nội dung, phạm vi ủy quyền cũng như ông là người ký tên, đóng dấu vào phiếu giao hàng cho ông Lý Tạt Vvào ngày 25/9/2020. Nên ông cho rằng Hợp đồng kinh tế số 20200925/HĐKT ngày 25/9/2020 hoàn toàn có giá trị và buộc ông Lý Tạt Vphải trả lại cho công ty Hsố tiền còn nợ. Bên cạnh đó cá nhân ông cũng như Công ty Hkhông có nhân viên, công nhân nào tên là Nhịp Nhục Dín. Việc ông Lý Tạt Vcó cung cấp 01 phiếu chi với số tiền 100.000.000 đồng với sự xác nhận là bà Dịp Nhục Dín không hề liên quan đến vấn đề thanh toán của Hợp đồng mua bán đã ký kết. Ông khẳng định ông Lý Tạt Vchưa hề trả bất cứ khoản tiền nào cho công ty Hằng Phong. Ông khẳng định lời trình bày của mình là hoàn toàn đúng với sự thật và chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về lời khai của mình.
* Tại bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người làm chứng bà Nguyễn Thị Mai H trình bày: Đồng nhất quan điểm đã trình bày của bị đơn. Việc anh V chỉ sử dụng được 01 máy mua của Công ty Hvà đã trả 100.000.000 đồng là sự thật và có phiếu chi thể hiện người nhận tiền là Dịp Nhục Dín, là kế toán bên ông Zhang Zun.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2023/DS-ST ngày 12/5/2023, Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới đa quyết đi ̣̃
nh: Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 351, 357; 430; 431; 433; 434; 440; 468 Bộ luật dân sự năm 2005; Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Luật thi hành án dân sự; tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV Máy chế biến gỗ Hđối với ông Lý Tạt Vvề “Tranh chấp hợp đồng mua bán”. Buộc ông Lý Tạt Vchịu trách nhiệm trả nợ cho Công ty TNHH MTV Máy chế biến gỗ Htổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 12/5/2023 với tổng số tiền 1.776.666.000 đồng (Trong đó: Nợ gốc: 1.640.000.000 đồng; nợ lãi quá hạn:136.666.000 đồng). Thời hạn thanh toán: Ngay khi bản án có hiệu lực.
Bản án sơ thẩm còn quyết định vấn đề án phí , tiền ta ̣m ứ ng án phi ; tuyên
́ viê ̣c chi ̣u lai đỗ
́i vớ i khoản tiền châ ̣m thi hành án , quyền thoả thuâ ̣n thi hành án , tự nguyê ̣n thi hành án, yêu cầu thi hành án, viê ̣c bi ̣ cưỡng chế thi hành án, vấn đề thờ i hiê ̣u thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 30/5/2023, bị đơn ông Lý Tạt Vkháng cáo Bản án số 17/2023/DS-ST ngày 12/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới vì Bản án đã vi phạm một số thủ tục tố tụng, nội dung vụ án hoàn toàn không đúng sự thật và trái pháp luật.
Tại phiên tòa, ông Lý Tạt Vvà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông V trình bày Hợp đồng mua bán máy móc được ký kết giữa Công ty Hvà ông Lý Tạ V vi phạm về hình thức, chỉ có dấu không có chữ ký của người được ủy quyền. Do đó, đề nghị tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Ông V mua bốn máy nhưng chỉ nhận được hai máy, còn một máy bị hỏng, một máy sử dụng được trị giá 330 triệu đồng, do đó ông V chỉ có trách nhiệm trả số tiền 330 triệu đồng cho Công ty Hằng Phong. Ông V đã trả tiền cho Công ty H100 triệu đồng do đó, ông V chỉ còn trả lại 230 triệu đồng.
Tại phiên tòa, ông Trần Chí Cường trình bày tài liệu, chứng cứ chứng minh nội dung khởi kiện của Công ty Hằng Phòng đã có đầy đủ trong hồ sơ vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử bác đơn kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên nội dung bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm , Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vu ̣ án, nô ̣i dung tóm tắt như sau:
-Về tố tụng: Thẩm phán, Hô ̣i đồng xét xử , Thư ký Toà án và những ngườ i tham gia tố tu ̣ng đa tuân thũ
̉ các quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự;
-Về nội dung: Kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông V, giữ nguyên toàn bộ án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Do không đồng ý với quyết định của Bản án sơ thẩm số 17/2023/DS-ST ngày 12/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, bị đơn ông Lý Tạt V kháng cáo Bản án số 17/2023/DS-ST ngày 12/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới. Đơn kháng cáo làm trong thời hạn quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Lý Tạt V cho rằng ông đã ký hợp đồng mua bán máy với ông Zhang Jun (Phó Giám đốc Công ty) chứ không phải với bà Thòng Nhịt K (Giám đốc Công ty). Tuy nhiên, tại phần đầu của hợp đồng thể hiện bên bán là bà Thòng Nhật Kíu, nhưng phần cuối hợp đồng chữ ký đại diện bên bán là ông Zhang Jun. Ông V ký kết hợp đồng mua 4 máy, tuy nhiên ông chỉ nhận được 2 máy. Sau đó, một máy bị hỏng, nên ông đã trả lại cho Công ty TNHH MTV Máy chế biến gỗ H (sau đây gọi tắt là Công ty H). Ông chỉ sử dụng được một máy có giá trị 330 triệu đồng, do đó ông chỉ có trách nhiệm trả số tiền 330 triệu đồng cho Công ty H. Ông V đã trả cho Công ty H số tiền 100 triệu đồng. Như vậy, số tiền mà ông V còn phải trả cho Công ty H là 230 triệu đồng. Số tiền này còn liên quan đến Công ty H thuê xưởng của vợ ông V là bà Nguyễn Thị Mai H, do đó sẽ được khấu trừ.
Xét thấy, mặc dù hợp đồng mua bán giữa ông Lý Tạt V và Công ty Hcó vi phạm về hình thức nhưng tại phiên tòa phúc thẩm ông V thừa nhận việc mua bán trên là tự nguyện, nội dung không vi phạm, hai bên đã tiến hành giao nhận máy. Do đó, hợp đồng mua bán máy giữa ông Lý Tạt Vvà Công ty Hcó hiệu lực pháp luật. Ông V cung cấp một số tài liệu là phiếu giao hàng ngày 25/9/2020 có chữ ký của ông V và một bên là dấu của Công ty Hằng Phong, có ghi chữ của ông V là tạm nhận 02 máy; Phiếu ra cổng ngày 26/11/2020 thể hiện đã trả máy cho Công ty Hằng Phong. Nguyên đơn cung cấp Phiếu giao hàng ngày 25/9/2020 có chữ ký của hai bên và dấu của Công ty H điều này thể hiện đã có việc giao nhận hàng giữa hai bên. Theo phiếu giao hàng giữa Công ty Hvới ông Lý Tạt V vào ngày 25/9/2020 thì việc giao nhận có tổng cộng 04 máy, ông V và ông Z đã ký vào Phiếu giao hàng. Từ đó, có thể khẳng định Công ty Hđã bán cho ông Lý Tạt V04 máy, trị giá 1.640.000.000 đồng, đúng như bản án sơ thẩm đã nhận định.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn chỉ trình bày được tên bà Dịp Nhục Dín trong việc nhận số tiền 100.000.000 đồng nhưng không đưa ra được tài liệu chứng cứ gì để chứng minh bà Dịp Nhục Dín là nhân viên của Công ty Hằng Phong. Theo chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp thì bà Dịp Nhục Dín là nhân viên của Công ty TNHH Shuang Feng, không phải nhân viên của Công ty Hằng Phong, do đó trình bày của bị đơn cho rằng đã trả số tiền 100.000.000 đồng cho Công ty Hlà không có cơ sở để xem xét.
Ông Lý Tạt Vcho rằng số tiền thanh toán máy móc giữa ông V và Công ty Hđược tính toán cấn trừ vào chi phí thuê nhà xưởng của Công ty vợ ông, nhưng chỉ thỏa thuận bằng miệng. Mặt khác, trong hợp đồng ký kết giữa ông V và Công ty Hkhông ghi nhận thỏa thuận này. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận đơn kháng cáo của ông V.
Tại phiên tòa, bị đơn cũng không cung cấp thêm được chứng cứ thể hiện Công ty Hđã nhận lại máy. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận đơn kháng cáo của ông Lý Tạt Vvề nội dung trên.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng không có đủ cơ sở để chấp nhận đơn kháng cáo của ông Lý Tạt Vnhư quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa. Do đó, cần giữa nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của nguyên đơn.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Tòa án xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Lý Tạt Vnên theo khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, ông Lý Tạt Vphải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308; khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; Điều 351, 357, 430, 431, 433, 434, 440, 468 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1.Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lý Tạt V, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 17/2023/DS-ST ngày 12/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Chấp nhận yêu cầu đơn khởi kiện của nguyên đơn của Công ty TNHH MTV Máy chế biên gỗ Hằng Phong. Buộc ông Lý Tạt V chịu trách nhiệm trả nợ cho Công ty TNHH MTV Máy chế biên gỗ H tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 12/5/2023 với tổng số tiền 1.776.666.000 đồng (Trong đó: Nợ gốc 1.640.000.000 đồng; nợ lãi quá hạn: 136.666.000 đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Ngườ i được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền , hàng tháng Bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mứ c lãi suất quy đi ̣nh ta ̣i Điều 357, Điều 468 Bô ̣ luâ ̣t Dân sự năm 2015.
2.Về án phí:
+Án phí dân sự sơ thẩm: ông Lý Tạt V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 65.999.980.000 đồng.
+Án phí dân sự phúc thẩm: ông Lý Tạt V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ vào số tiền mà ông Lý Tạt V đã nộp tại biên lai số 31AA/2021/0001558 ngày 06/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
3.Trườ ng hợp bản án được thi hà nh theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 2 Luâ ̣t Thi hành án dân sự , thì người được thi hành án dân sự , Ngườ i phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuâ ̣n thi hành án , quyền yêu cầu thi hành án , tự nguyê ̣n thi hành án , hoă ̣c bi ̣ cưỡng chế t hi hành án theo quy đi ̣nh ta ̣i các Điều 6,7,9,7a,7b Luâ ̣t thi hành án dân sự năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung mô ̣t số điều của Luâ ̣t thi hành án dân sự; thờ i hiê ̣u thi hành án dân sự được thực hiê ̣n theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 30 Luâ ̣t thi hành án dân sự.
4.Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (29/ 8/2023).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Bình; - Chi cục THADS thành phố Đồng Hới; - TAND thành phố Đồng Hới; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Bá Lưu |