vanban.org

Quyết định 43/2022/QĐHG-HNGĐ — Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải:

Người khởi kiện: Ông Lê Phú K, sinh năm 1955 Bà Lê Thị N, sinh năm 1953 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Lê Phú K. Lê Văn M."
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải:
  • Căn cứ chính? Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án số 58/2020/QH14; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 43/2022/QĐHG-HNGĐH, ngày 26 tháng 4 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÕA GIẢI THÀNH TẠI TÕA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H

Căn cứ các Điều 78 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 10, khoản 1 Điều 26, Điều 27 Luật nuôi con nuôi; Khoản 8 Điều 29, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 35 và Điều 36 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án ngày 11 tháng 4 năm 2022, về việc các bên thỏa thuận được với nhau về giải quyết toàn bộ vụ việc “Tranh chấp về chấm dứt việc nuôi con nuôi” giữa:

Người khởi kiện: Ông Lê Phú K, sinh năm 1955

Bà Lê Thị N, sinh năm 1953

Địa chỉ: thôn Tr, xã Th, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

Người bị kiện: Anh Lê Văn M, sinh năm 2003

Địa chỉ: Thôn Tr, xã Th, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Trương Thị X, sinh năm 1975

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Th, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Sau khi nghiên cứu Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án cùng tài liệu kèm theo do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án theo hồ sơ yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án ngày 11 tháng 4 năm 2022.

XÉT THẤY:

Nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án đã có đủ điều kiện quy định tại Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Đã hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải và tài liệu kèm theo, không có bên nào ý kiến khác về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải:

Người khởi kiện: Ông Lê Phú K, sinh năm 1955

Bà Lê Thị N, sinh năm 1953

Địa chỉ: thôn Tr, xã Th, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

Người bị kiện: Anh Lê Văn sinh năm 2003

Địa chỉ: Thôn Tr, xã Th, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Trương Thị X, sinh năm 1975

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Th, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

2. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án của các bên cụ thể như sau:

Anh Lê Văn M là con ruột của ông Lê Văn S (đã chết năm 2004) và bà Trương Thị X. Năm 2007, ông Lê Phú K và vợ là bà Lê Thị N có làm thủ tục nhận anh Lê Văn M, sinh ngày 25/11/2003 là con nuôi, được Ủy ban nhân dân xã Th cấp Giấy chứng nhận nuôi con nuôi trong nước số 02, cấp ngày 21/3/2007.

Nay anh M đã đủ tuổi thành niên, ông Lê Phú K, bà Lê Thị N, anh Lê Văn M và bà Trương Thị X thỏa thuận thống nhất: Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa ông Lê Phú K và bà Lê Thị N đối với anh Lê Văn M, sinh ngày 25/11/2003.

Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi là ông Lê Phú K và bà Lê Thị N với con nuôi là anh Lê Văn M chấm dứt kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực pháp luật.

Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ là ông Lê Văn S (chết năm 2004) và bà Trương Thị X đối với con đẻ là anh Lê Văn M được khôi phục kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi chấm dứt.

Về lệ phí: Căn cứ Điều 6 Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án số 58/2020/QH14 ngày 16/6/2020 của Quốc hội, đương sự không phải chịu lệ phí.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

4. Các bên đương sự có quyền đề nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định.

5. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Cỡ chữ