vanban.org

Quyết định 43/2022/QĐ-TA

TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 02/12/2022 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020);

Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Hà Văn T"
  • Tòa quyết gì? Điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020);
  • Căn cứ chính? Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 43/2022/QĐ-TAĐại Từ, ngày 02 tháng 12 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

- Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Bà Nguyễn Thúy Quỳnh

- Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thủy Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Ngày 02 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định mở phiên họp số: 36/2022/QĐ-TA ngày 18 tháng 11 năm 2022 đối với:

Họ và tên: Hà Văn T, sinh năm 1985.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: xóm P, xã PT, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên. Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông: Hà Quý H, sinh năm 1958; Con bà: Lưu Thúy L, sinh năm 1960. Vợ: Dương Thị N, sinh năm 1985 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2008. (vắng mặt)

Có sự tham gia của:

- Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Quân Anh, Chức vụ: Cán bộ Phòng Lao động Thương Binh và Xã hội huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ: Ông Nguyễn Thành Đạt, chức vụ: Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo tài liệu có trong hồ sơ đề nghị, tại bản tường trình, biên bản lấy lời khai Hà Văn T xác định: T sử dụng và lệ thuộc vào ma túy từ năm 2019, loại ma túy sử dụng là heroine, hình thức sử dụng “hít”. Mức độ sử dụng ma túy từ 1 đến 2 lần một ngày. Ngày 29/10/2022, T tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy heroine với hình thức là hít.

Tại Biên bản xét nghiệm ma túy và Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 31/10/2022 của Trạm y tế xã PT có kết quả xét nghiệm đối với T xác định: Dương tính với chất ma túy trong cơ thể.

Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Bệnh viện đa khoa huyện Đại Từ xác định tình trạng nghiện ma túy đối với T: Có nghiện ma túy.

Sau đó, Công an xã Phú Thịnh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã lập biên bản làm việc đối với T và thông báo cho T trong thời gian 05 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản T phải đến đăng ký biện pháp cai nghiện tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại Ủy ban nhân dân xã. Quá thời hạn nêu trên, nếu T không đăng ký hình thức cai nghiện trên thì sẽ tiến hành lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hàn chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của pháp luật.

Đến ngày 05/11/2022, T vẫn không thực hiện việc đăng ký hình thức cai nghiện theo quy định. Do vậy Công an xã Phú Thịnh đã lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và lập hồ sơ đề nghị đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Công văn số: 45/ĐN-CNBB, ngày 10/11/2022 của Ủy ban nhân dân xã PT, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đề nghị Phòng Lao động Thương binh và xã hội huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T.

Công văn số: 550/ĐN-CNBB, ngày 15/11/2022 của Phòng Lao động Thương binh và xã hội huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T.

Tại phiên họp:

- Đại diện phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Đại Từ vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án nhân dân xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên đối với Hà Văn T với thời gian từ 15 đến 18 tháng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 như: Thời hạn ra Thông báo thụ lý vụ việc, ra Quyết định mở phiên họp, thành phần tham gia phiên họp.

Quan điểm của Kiểm sát viên về việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Có đủ căn cứ và thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T, nhất trí quan điểm của đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Đại Từ đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đại Từ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T với thời gian là từ 15 đến 18 tháng.

XÉT THẤY:

Qua xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T, thấy rằng:

- Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân thì việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

- Về thời hiệu: Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Đại Từ đối với Hà Văn T vẫn trong thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 9 của Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

- Về hồ sơ đề nghị áp dụng: Đã có đầy đủ các tài liệu theo quy định tại Điều 103, khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 41 Nghị định 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và trình bày của cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thấy rằng:

Hà Văn T sử dụng và lệ thuộc vào ma túy từ năm 2019 đến nay, ngày 31/10/2022 Công an xã Phú Thịnh đã lập biên bản làm việc đối với T và thông báo cho T trong thời gian 05 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản T phải đến đăng ký biện pháp cai nghiện tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại Ủy ban nhân dân xã. Tuy nhiên, hết thời hạn nêu trên, T không thực hiện việc đăng ký biện pháp cai nghiện. Do vậy, trưởng công an xã Phú Thịnh đã lập biên bản vi phạm và lập hồ sơ đề nghị đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Điều 33 Nghị định số 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ.

Như vậy, đã đủ căn cứ để xác định Hà Văn T thuộc đối tượng “Không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện” và “Người nghiện ma túy các chất dạng thuốc phiện không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế hoặc bị chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế do vi phạm quy định về điều trị nghiện” theo khoản 1, khoản 3 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T là trái quy định của pháp luật, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về ma tuý, làm tệ nạn ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng xấu đến việc phòng chống tệ nạn xã hội của Nhà nước ta, nên việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với T là cần thiết.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với T thấy: T chưa bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc lần nào. Trong quá trình lập hồ sơ T đã tự nguyện khai báo, nhận thức được hành vi vi phạm của mình là vi phạm pháp luật, đây được coi là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. T không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 10 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đại Từ về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020);

- Khoản 1 Điều 3, các Điều 22, 23, 29, 30, 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/20214 quy định về: Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

- Điều 32 Luật phòng, chống ma túy;

- Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;

- Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:

Họ và tên: Hà Văn T, sinh năm 1985.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: xóm P, xã PT, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 16 (Mười sáu) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại đối với Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định của Tòa án.

Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị Quyết định thực hiện theo quy định tại Điều 32 của pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định này: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đại Từ phối hợp với Công an huyện Đại Từ đưa người phải chấp hành Quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ