vanban.org

Quyết định 43/2019/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/02/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Lê Thị T.

Tuyên bố ông Trần V, sinh năm 1933; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Đường K, Phường O, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết. Ngày chết của ông Trần V là ngày 01/01/2002. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố một người là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Lê Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Luật Thi hành án dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 43/2019/QĐST-DSTân Bình, ngày 28 tháng 02 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v YÊU CẦU TUYÊN BỐ MỘT NGƯỜI LÀ ĐÃ CHẾT

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Mai Thị Bích Thảo.

Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Thu Thủy - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 407/2018/TLST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2018 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 02/2019/QĐST-DS ngày 19 tháng 02 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị T, sinh năm 1941; địa chỉ: Đường K, Phường O, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Trần Văn M – sinh năm 1963; địa chỉ: Đường A, khu phố I, phường H, quận J, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Ông Trần Phước C– sinh năm 1968; địa chỉ: Đường E, khu phố Y, phường U , quận J, Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Ông Trần Phước R – sinh năm 1965; địa chỉ: Đường K, Phường O, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh

4/ Ông Trần Phước P – sinh năm 1967; địa chỉ: Đường K, Phường O, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

5/ Ông Trần Phước S – sinh năm 1970; địa chỉ: Đường K, Phường O, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

6/ Ông Trần Phước F – sinh năm 1972; địa chỉ: Đường K, Phường O, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Bà Lê Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần V, sinh năm 1933; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Đường K, Phường O, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Ông Trần V có nơi cư trú cuối cùng tại quận B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận B theo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về tư cách tố tụng: Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định người yêu cầu là bà Lê Thị T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các ông: Trần Văn M, Trần Phước C, Trần Phước R, Trần Phước P, Trần Phước S, Trần Phước F.

[1.3] Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị T là người yêu cầu và ông Trần Văn M là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Ông C, ông R, ông P, ông S, ông F vắng mặt . Căn cứ vào khoản 3 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự theo quy định.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

Về yêu cầu của đương sự: Người yêu cầu là bà Lê Thị T trình bày: Bà và ông Trần V chung sống với nhau từ năm 1960 theo trích lục chứng thư hôn thú cấp ngày 28/12/1960 của Việt Nam Cộng Hòa và có 08 người con gồm: Trần Văn G (chết lúc nhỏ và đất nước có chiến tranh nên không khai tử) Trần Văn M, Trần Thị X (đã chết theo trích lục khai tử số 1479/TLKT-BS do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 10/9/2018), Trần Phước C, Trần Phước R, Trần Phước P, Trần Phước S và Trần Phước F. Năm 1996, ông Trần V bỏ nhà đi không biết lý do, không biết đi đâu. Ngày 29/10/2007 Tòa án nhân dân quận B đã có Quyết định số 33/2007/QĐDS-ST tuyên bố ông Trần V mất tích. Từ ngày Tòa tuyên bố ông Trần V mất tích đến nay, gia đình vẫn không có tin tức gì nên nay bà yêu cầu tuyên bố ông Trần V đã chết để thuận tiện cho các thủ tục hành chính khi cần thiết.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thống nhất với yêu cầu của bà Lê Thị T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu về việc giải quyết việc dân sự: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà T tuyên bố ông Trần V là đã chết.

Tòa án xét thấy: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì bà Lê Thị T là vợ của ông Trần V nên bà có quyền yêu cầu tuyên bố ông V là đã chết.

Theo lời trình bày của các đương sự và xác nhận của Công an Phường O, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 07/9/2018 thì :”ông Trần V, sinh năm 1933, HKTT Đường K, Phường O, quận B. Năm 1996 bỏ địa phương đi quá 6 tháng không về. CAPOQB đã xóa khẩu 18.04.1997. Đến nay không trở về địa phương”. Bà T đã thông báo tìm kiếm thông tin ông Trần V trên Báo Lao động, Đài Tiếng nói Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh; Tòa án nhân dân quận B đã thông báo trên Cổng thông tin điện tử Tòa án Thành phố Hồ Chí Minh tìm kiếm thông tin ông V nhưng vẫn không có tin tức.

Xét, Quyết định giải quyết tuyên bố một người mất tích số 33/2007/QĐDS-ST có hiệu lực pháp luật từ ngày 29/10/2007. Đã sau 3 năm kể từ ngày Quyết định trên có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực ông V còn sống theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên yêu cầu của bà T tuyên bố ông V đã chết là có căn cứ, được chấp nhận.

Do năm 1996 là thời điểm biết được tin tức cuối cùng của ông V nên theo quy định tại khoản 1 Điều 68, điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì ngày chết của ông V được xác định là ngày 01/01/2002.

Bà T thực hiện đăng ký khai tử cho ông V theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Căn cứ vào Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.

Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; Tài sản của ông V (nếu có) được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị T phải chịu theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 371, 372; Điều 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 68, điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2014;

- Căn cứ vào Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Lê Thị T.

Tuyên bố ông Trần V, sinh năm 1933; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Đường K, Phường O, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.

Ngày chết của ông Trần V là ngày 01/01/2002.

Bà Lê Thị T thực hiện đăng ký khai tử cho ông Trần V theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.

Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; Tài sản của ông Trần V (nếu có) được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Lê Thị T phải chịu lệ phí là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), được cấn trừ vào tiền tạm ứng lệ phí bà T đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0008xxx ngày 07/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

Bà Lê Thị T, ông Trần Văn M có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Các ông Trần Phước C, Trần Phước R, Trần Phước P, Trần Phước S, Trần Phước F được quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc quyết định được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ