vanban.org

Quyết định 425/2025/QĐ-PT

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/09/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện là bà Nguyễn Thị B.

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 141/2025/QĐST-HC ngày 28 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Thị B kiện UBND thành phố T"
  • Tòa quyết gì? Bác yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện là bà Nguyễn Thị B.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 144 Luật Tố tụng hành chính; Điều 145 Luật Tố tụng hành chính
TÒA PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 425/2025/QĐ-PTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 9 năm 2025.

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO

ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Phan Văn Yên;

Các Thẩm phán:

Ông Phan Nhựt Bình;

Ông Nguyễn Văn Minh.

Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ

Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Đình Nam - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số

141/2025/QĐST-HC ngày 28 tháng 4 năm 2025, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ vào khoản 5 Điều 38, điểm g khoản 1 Điều 143, Điều 144 và Điều 145 của Luật Tố tụng hành chính, Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc“Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, giữa:

- Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1965

Địa chỉ: 1 M, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là

phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

(người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng là Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L, Thành phố Hồ Chí Minh).

Tại đơn kháng cáo ngày 06 tháng 6 năm 2025, người khởi kiện là bà

Nguyễn Thị B kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính nêu trên và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết vụ án.

Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí

Minh phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, người khởi kiện kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới chứng minh nên đề nghị Hội đồng phúc thẩm bác kháng cáo và giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm.

XÉT THẤY:

Theo Đơn khởi kiện ngày 29/7/2024 và Đơn khởi kiện ngày 06/3/2025

của bà Nguyễn Thị B cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì bà Nguyễn Thị B là người quản lý, sử dụng nhà đất có diện tích hơn 390m2 tại địa 83A83 Cầu Ô, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 20/5/1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 426/1998/QĐ-TTg về việc giao đất cho Công ty C - Văn hóa dân tộc để đầu tư xây dựng C - Văn hóa dân tộc tại phường L, Quận I.

Ngày 13/3/2003, Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành Quyết định số

35/QĐ-UB về việc ban hành quy định về đền bù, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư trong dự án đầu tư xây dựng C - Văn hóa dân tộc tại phường L, Quận I.

Ngày 25/3/2011, Ủy ban nhân dân Quận I ban hành Quyết định số

305/QĐ-UBND- BBT về việc công bố giá trị bồi thường, hỗ trợ của hộ bà Nguyễn Thị B, địa chỉ: H Cầu Ô, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong dự án đầu tư xây dựng C - Văn hóa dân tộc (Khu C) tại phường L, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 09/7/2008, Ủy ban nhân dân Quận I ban hành Quyết định số

2200/QĐ-UBND- BBT về việc công bố giá trị bồi thường, hỗ trợ bổ sung của hộ bà Nguyễn Thị B.

Ngày 02/10/2013, Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành Quyết định số

5446/QĐ-UBND về việc điều chỉnh Quyết định số 426/1998/QĐ-TTg ngày 20/5/1998 của Thủ tướng Chính phủ.

Từ năm 2008, sau khi nhận được Quyết định số 305/QĐ-UBND- BBT bà

B đã gửi đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân Quận I, Ủy ban nhân dân Thành phố H và các cơ quan trung ương về việc Ủy ban nhân dân Quận I thu hồi đất nhưng không có quyết định thu hồi đất là trái quy định nhưng khiếu nại không được giải quyết.

Ngày 29/7/2024, bà Nguyễn Thị B nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy

Quyết định số 305/QĐ-UBND-BBT ngày 25/3/2011 và Quyết định số 2200/QĐ-UBND-BBT ngày 09/7/2008 của Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh)

Ngày 25/4/2025, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành lấy

lời khai của đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị B là bà Nguyễn Thị Ú về yêu cầu khởi kiện của bà B, thì bà Ú trình bày từ năm 2008 đến nay bà B không nhận thêm bất kỳ quyết định nào khác có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của bà, đồng thời bà B xác định từ năm 2008 đã khiếu nại các quyết định này nhưng không được giải quyết khiếu nại, bà B không còn bất cứ tài liệu chứng cứ nào giao nộp để chứng minh còn thời hiệu khởi kiện. Nay bà B khởi kiện yêu cầu hủy các quyết định này là đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính.

Từ những phân tích trên, Hội đồng phúc thẩm xét thấy, Tòa án cấp sơ

thẩm quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính là có căn cứ và đúng quy định pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bà B kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới chứng minh nên bác yêu cầu kháng cáo của bà B và giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính của Tòa án cấp sơ thẩm.

Án phí hành chính phúc thẩm: bà Nguyễn Thị B sinh năm 1965 là

người cao tuổi nên được miễn theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào Điều 243 của Luật tố tụng hành chính;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Bác yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện là bà Nguyễn Thị B.

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số

141/2025/QĐST-HC ngày 28 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Án phí hành chính phúc thẩm: bà Nguyễn Thị B được miễn.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.

Cỡ chữ