vanban.org

Quyết định 42/2022/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 30/05/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Đặng Bá H, sinh ngày: 22/12/1985, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã H, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh và chị Đặng Thị D, sinh ngày: 21/9/1984, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn K, xã H, huyện T, tỉnh H…

Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận tự nguyện của anh Đặng Bá H và chị Đặng Thị D: Giao con chung Đặng Bá H L, sinh ngày 04/10/2007 cho anh Đặng Bá H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi); Giao con chung Đặng Thị Ly N, sinh ngày 06/4/2013 cho chị Đặng Thị D trực tiếp chă… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Quyết định công nhận thuận tình ly hôn Đặng Bá H - Đặng Thị D"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Đặng Bá H, sinh ngày: 22/12/1985, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã H, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh và chị Đặng Thị D, sinh ngày: 21/9/1984, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn K, xã H, huyện T, tỉnh H…
  • Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 43 /2022/QĐST - HNGĐHà Tĩnh, ngày 30 tháng 5 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Hà Ngân

Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Hạnh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Bà Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 59/2022/TLST

- HNGĐ ngày 14/4/2022 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, Theo Quyết định mở phiên họp số 39/2022/QĐ-TA ngày 13/5/2022 gồm những người tham gia tố tụng sau:

Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân gia đình:

- Anh Đặng Bá H, sinh ngày: 22/12/1985, địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt).

- Chị Đặng Thị D; sinh ngày: 21/9/1984, địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn K, xã H, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. (Hiện đang lao động tự do tại Đài Loan - Vắng mặt tại phiên họp).

NỘI D VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai anh Đặng Bá H trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Đặng Bá H và chị Đặng Thị D đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 06/3/2007 tại Ủy ban nhân dân xã L (Ny là xã H) huyện T, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện và không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 11/2015, chị Đặng Thị D đi xuất khẩu tại Đài Loan, khoảng hơn một năm sau thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi cọ, thiếu sự quan tâm và chia sẽ với nhau. Tính đến Ny, vợ chồng sống cách xa nhau đã hơn 5 năm, mâu thuẫn càng nhiều hơn. Hiện tại, cả hai đều nhận thấy tình cảm không còn, không mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân nên anh H làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới tốt đẹp hơn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung cháu Đặng Bá H L (tên gọi cũ Đặng Huy H), sinh ngày 04/10/2007 và Đặng Thị Ly N (tên gọi cũ Đặng Ly N), sinh ngày 06/4/2013. Khi ly hôn anh H có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung Đặng Bá H L đến tuổi trưởng thành, giao con chung Đặng Thị Ly N cho chị Đặng Thị D chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Hai bên không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với chị Đặng Thị D, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã gửi thông báo thụ lý vụ án và được người thân của chị nhận thay. Quá trình xác minh người thân của chị D cung cấp thông tin hiện tại chị đang lao động tại Đài Loan nhưng không có địa chỉ cụ thể nên không thể cung cấp cho tòa án. Chị D cũng đã biết được việc anh Đặng Bá H làm đơn xin ly hôn và chị D cũng hoàn toàn nhất trí như yêu cầu ly hôn của anh H.

Tại phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng các Điều 51, 55, 57, 81, 82, 83, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 26/4/2003 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao, Công văn số 253 ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao: Về tình cảm: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Đặng Bá H và chị Đặng Thị D; về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa anh Đặng Bá H và chị Đặng Thị D: Giao con chung Đặng Bá H L, sinh ngày 04/10/2007 cho anh Đặng Bá H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; giao con chung Đặng Thị Ly N, sinh ngày 06/4/2013 cho chị Đặng Thị D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, trong thời gian chị D đang lao động tại Đài Loan tạm thời giao cháu Đặng Thị Ly N cho bà ngoại là bà Phạm Thị H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình đã được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của anh Đặng Bá H và chị Đặng Thị D, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Tại Công văn số 6206/QLXNC-P5 ngày 24/3/2022 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của Cục quản lý xuất nhập cảnh Bộ công an thể hiện: Chị Đặng Thị D, sinh ngày 21/9/1984, CMTND số xxxxxxxxx do Công an Hà Tĩnh cấp ngày 21/02/2002, Hộ khẩu thường trú: Xã L (Nay là H), huyện T, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất nhập cả nh 4 lần, xuất cảnh gần đây nhất vào ngà y 02/11/2015 qua Sân bay quốc tế Nội Bài, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Căn cứ quy định tại khoản 25 Điều 3, Điều 122, 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 29, 37, 39, 464, của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nội dung yêu cầu của anh Đặng Bá H và chị Đặng Thị D thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Để đảm bảo giải quyết vụ việc đúng quy định pháp luật, Tòa án đã tiến hành xác minh thông tin về chị Đặng Thị D thông qua bà Phạm Thị H1(mẹ đẻ chị D) và được bà cung cấp thông tin hiện tại chị Đặng Thị D đang lao động tại Đài Loan và thường xuyên liên lạc về với gia đình nhưng địa chỉ cụ thể của chị D tại Đài Loan gia đình không rõ. Tòa án đã kết nối điện thoại qua cuộc gọi hình ảnh trên ứng dụng Zalo với sự chứng kiến của bà Phạm Thị H1 và đại diện chính quyền địa phương xác nhận chị Đặng Thị D là vợ anh Đặng Bá H. Trao đổi qua điện thoại, chị D trình bày thống nhất về thời gian, địa điểm kết hôn, cuộc sống vợ chồng, quan hệ con chung đúng như anh H đã trình bày. Vợ chồng sống cách xa nên phát sinh nhiều mâu thuẫn, cả hai thiếu sự quan tâm và chia sẽ với nhau, hiện tại, chị cũng nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm gì với nhau, nên anh H làm đơn ly hôn chị cũng nhất trí ly hôn; Về con chung: Chị thống nhất giao con chung Đặng Bá H L (tên gọi cũ Đặng Huy H), sinh ngày 04/10/2007 cho anh H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đặng Thị Ly N (tên gọi cũ Đặng Ly N), sinh ngày 06/4/2013 đến tuổi trưởng thành, trong thời gian chị đang lao động tại Đài Loan tạm thời giao cháu Đặng Thị Ly N cho bà ngoại là bà Phạm Thị H1 chăm sóc, nuôi dưỡng, hai bên không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị D trình bày thêm hiện tại chị đang lao động tự do tại Đài Loan do điều kiện công việc cũng như dịch bệnh phức tạp nên chị không thể về Việt Nam để trực tiếp giải quyết việc ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn vắng mặt chị, chị đồng ý việc Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân ở Việt Nam là mẹ đẻ bà Phạm Thị H1; địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Xét thấy, anh Đặng Bá H và chị Đặng Thị D đã thống nhất thỏa thuận được với nhau về quan hệ tình cảm, con chung, tài sản chung, nợ chung. Vì vậy, Tòa án căn cứ quy định tại Điều 29, 361 Bộ luật tố tụng dân sự chuyển quan hệ pháp luật từ vụ án “Ly hôn” thành “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn” và căn cứ Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Tòa án thực hiện tống đạt văn bản tố tụng cho chị D thông qua người thân là mẹ đẻ bà Phạm Thị H1.

Anh Đặng Bá H và chị Đặng Thị D đều đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

Anh Đặng Bá H có văn bản đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Căn cứ các Điều 205, 207 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã ban hành Thông báo số 10/TB – TA ngày 22/4/2022 về việc vụ việc không hòa giải được.

Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, Quyết định mở phiên họp giải quyết việc hôn nhân gia đình theo đúng quy định pháp luật.

Tòa án yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu chứng cứ và tiến hành xác minh tài liệu chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ là tuân thủ quy định tại các điều 93, 94, 95, 96, 97, 208 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Đặng Bá H và chị Đặng Thị D là vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 06/3/2007 tại Ủy ban nhân dân xã L (Nay là xã H) huyện T, tỉnh Hà Tĩnh nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồ ng chung số ng hạ nh phú c đượ c mộ t thờ i gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vì vợ chồng sống cách xa nhau, thiếu sự quan tâm, chăm sóc, chia sẽ nên tình cảm dần phai nhạt. Hiện tại, anh H và chị D đều thừa nhận tình cảm vợ chồng không cò n , không thể tiếp tục, duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa, mong muốn được ly hôn để tạo L cuộc sống mới.

Xét thấy: Mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chung thủy, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau...nhưng hôn nhân giữa anh H và chị D không đạt được mục đích đó, mâu thuẫn đã trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, chung thủy, giúp đỡ nhau.

Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....”(Điều 55).

Như vậy, anh Đặng Bá H và chị Đặng Thị D đã tự nguyện thỏa thuận ly hôn. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, công nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.

Về quan hệ con chung: Anh Đặng Bá H và chị Đặng Thị D có 02 con chung, anh chị đều thống nhất sau ly hôn anh Đặng Bá H sẽ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Đặng Bá H L,sinh ngày 04/10/2007 đến tuổi trưởng thành; Chị Đặng Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đặng Thị Ly N, sinh ngày 06/4/2013 đến tuổi trưởng thành, trong thời gian chị đang lao động tại Đài Loan tạm thời giao cháu Đặng Ly N cho bà ngoại là bà Phạm Thị H1 chăm sóc, nuôi dưỡng, hai bên không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Bà Phạm Thị H1 cũng tự nguyện chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đặng Thị Ly N trong thời gian chị Đặng Thị D đang lao động tại Đài Loan. Cháu Đặng Bá H L cũng có đơn trình bày nguyện vọng ở với bố, cháu Đặng Thị Ly N cũng có đơn trình bày nguyện vọng ở với mẹ và bà ngoại khi mẹ đang lao động tại Đài Loan. Do đó, cần căn cứ quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình, ghi nhận sự thỏa thuận tự nguyện của vợ chồng về việc chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng các con chung như các đương sự đã trình bày.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

Từ những phân tích trên, xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn, nuôi con của anh Đặng Bá H và chị Đặng Thị D.

Về lệ phí: Các đương sự phải chịu lệ phí việc Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 146, 149, 361, 367, 369, 370 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 55, 57, 81, 82, 83 khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Đặng Bá H, sinh ngày: 22/12/1985, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã H, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh và chị Đặng Thị D, sinh ngày: 21/9/1984, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn K, xã H, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, hiện đang lao động tại Đài Loan.

2. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận tự nguyện của anh Đặng Bá H và chị Đặng Thị D: Giao con chung Đặng Bá H L, sinh ngày 04/10/2007 cho anh Đặng Bá H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi); Giao con chung Đặng Thị Ly N, sinh ngày 06/4/2013 cho chị Đặng Thị D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), trong thời gian chị D đang lao động tại Đài Loan tạm thời giao cháu Đặng Thị Ly N cho bà ngoại là bà Phạm Thị H1 chăm sóc, nuôi dưỡng. Hai bên không bên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.

3 Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

4. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Áp dụng Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 4, 6, 9, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000đ lệ phí ly hôn sơ thẩm của anh Đặng Bá H (đã nộp tại biên lai số 0000155 ngày 13/4/2022 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh).

5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.

Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.

Cỡ chữ