vanban.org

Quyết định 42/2022/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND huyện Quốc Oai, TP. Hà Nội Tuyên án 18/07/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 12/02/2022 của bà Nguyễn Thị L1:

Tuyên bố ông Nguyễn Doãn H (tức ông Nguyễn Quang H), sinh năm 1960; Sinh quán và nơi cư trú cuối cùng: Thôn N, xã NM, huyện Q, thành phố Hà Nội đã chết kể từ ngày 01/01/2005. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố ông Nguyễn Doãn H đã chết: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 12/02/2022 của bà Nguyễn Thị L1:
  • Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Q
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 42/2022/QĐST-DSQ, ngày 18 tháng 7 năm 2022.

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Hữu Thanh.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Q.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, thành phố Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 16/2022/TLST-DS ngày 08 tháng 3 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người đã chết” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 01/2022/QĐST-VDS ngày 12 tháng 7 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1960;

HKTT và nơi ở: Số nhà 15, đường P, phường M, quận B, thành phố Hà Nội.

* Người bị yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Ông Nguyễn Doãn H (tức ông Nguyễn Quang H), sinh năm 1960;

Sinh quán và nơi cư trú cuối cùng: Thôn N, xã NM, huyện Q, thành phố Hà Nội.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1- Chị Nguyễn Thu L, sinh năm 1993;

HKTT và nơi ở: Số 93, TDP H, phường L, quận B, thành phố Hà Nội.

2- Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1998;

HKTT và nơi ở: Đường P, phường M, quận B, thành phố Hà Nội.

Bà L1, chị L có mặt. Chị T có đơn xin vắng mặt tại phiên họp.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Bà Nguyễn Thị L1 là người yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Doãn H đã chết trình bày:

Tôi và ông Nguyễn Doãn H trước khi đăng ký có tìm hiểu và đã đăng ký kết hôn ngày 25/6/1992 tại UBND xã M, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội (nay là phường M, quận B, TP Hà Nội). Sau khi cưới xong vợ chồng chung sống H thuận tại số nhà 15, đường P, phường M. Quá trình chung sống ông H không chuyển khẩu về phường M cùng với tôi mà vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn N, xã NM, huyện Q, thành phố Hà Nội. Ông H làm nghề tự do, đi lại cả hai bên ở xã NM và phường M. Năm 1993 tôi sinh cháu đầu lòng là Nguyễn Thu L. Năm 1998 tôi sinh cháu thứ hai là Nguyễn Thị Thanh T, do vợ chồng mâu thuẫn; ông H nghi ngờ cháu T không phải là con ông nên đã đi khỏi nhà và không có tin tức gì, không biết sinh sống ở đâu. Tôi đã về quê của ông H ở thôn N, xã NM hỏi anh em nội ngoại và bạn bè ông H về ông H và tìm kiếm nhưng gia đình ông H và bạn bè ông cho biết ông H không về quê sinh sống mà bỏ đi đâu không có tin tức gì, không liên lạc với gia đình, gia đình và địa phương không ai biết thông tin xác thực ông H đang ở đâu, còn sống hay đã chết.

Đến nay gia đình tôi có thửa đất số 119, tờ bản đồ 26, diện tích 89m2 tại xã M, huyện Từ Liêm, TP Hà Nội (nay là phường M, quận B, TP Hà Nội); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 898479, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01421/QSDĐ.3646/QĐ-UBH do UBND huyện Từ Liêm, TP Hà Nội cấp ngày 26/11/2004 cho hộ gia đình tôi là bà Nguyễn Thị L1. Hiện nay tôi đã già yếu muốn tặng cho các con gái nhà đất nhưng do vướng thủ tục chồng tôi là Nguyễn Doãn H không có tin tức gì từ năm 1999 đến nay.

Để có căn cứ tặng cho nhà đất các con gái tôi, tôi đã làm thông báo nhắn tìm ông H ở đâu về ngay nhà để giải quyết việc tặng cho tài sản các con gái đăng lên báo Công Lý ba số báo liên tiếp là 76, 77, 78 ra các ngày 22, 24, 29 tháng 9 năm 2021 và Đài phát thanh VOV2 phát vào hồi 17 giờ 30 phút các ngày 14, 15, 16 tháng 10 năm 2021 nhưng từ đó đến nay vẫn không có tin tức gì.

Vì thế tôi đã làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Q tuyên bố ông Nguyễn Doãn H (tức ông Nguyễn Quang H), sinh năm 1960; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn N, xã NM, huyện Q, TP Hà Nội đã chết.

* Theo bản tự khai và biên bản lấy lời khai của chị Nguyễn Thu L và chị Nguyễn Thị Thanh T là người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự trình bày.

Cả hai đều là con gái bà L1, ông H. Theo như bà L1 nói lại là khi chị L được khoảng 6 tuổi, chị T đang là thai nhi khoảng 7 tháng thì ông H do nghi ngờ bà L1 lúc đó mang thai chị Nguyễn Thị Thanh T không phải là con chung của ông H và bà L1 nên ông H đã bỏ về quê tại thôn N, xã NM và hai tháng sau chị T mới sinh ra. Thực tế ông H bỏ nhà đi khi nào chị L và chị T đều không rõ vì lúc đó còn quá nhỏ. Chị L và chị T chỉ nghe bà L1 nói là hai bên gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì về ông H. Từ đó đến nay gia đình không nhận được tin tức gì từ ông H. Gia đình cũng đã về quê nội ở N, NM hỏi tin tức về ông H nhưng cũng không ai biết. Gia đình đã nhắn tìm trên báo Công Lý và Đài VOV từ năm 2021 đến nay vẫn không có hồi âm gì.

Hiện nay gia đình bà L1 có thửa đất số 119, tờ bản đồ số 26, diện tích 89m2 tại phường M, quận B, TP Hà Nội đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà L1 muốn tặng cho tài sản là thửa đất trên cho chị L và chị T nên đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Doãn H tức ông Nguyễn Quang H, sinh năm 1960; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn N, xã NM, huyện Q, TP Hà Nội đã chết.

* Ông Nguyễn Doãn Nhanh - Trưởng họ Nguyễn Doãn thôn N trình bày:

Ông Nguyễn Doãn H khoảng năm 16, 17 tuổi đã phải đi thụ hình về tội trộm cắp tài sản. Sau đó vài năm về nhà thì lấy bà L1 ở M, Từ Liêm, Hà Nội. Đến khoảng năm 1999, ông H có về quê sống một thời gian ngắn sau đó đi đâu không rõ địa chỉ cũng không liên lạc gì với gia đình và họ hàng. Hiện nay ông H ở đâu? Làm gì? Còn sống hay đã chết gia đình và họ hàng không ai biết.

* Ông Nguyễn Doãn Đông là cháu ruột ông H trình bày:

Ông H trước khi cưới có tìm hiểu và đã đăng ký kết hôn với bà Nguyễn Thị L1 tại UBND xã M, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Quá trình vợ chồng sống chung, ông H không chuyển khẩu mà giữ nguyên tại thôn N, xã NM. Năm 1999 ông H về lấy giấy tờ sang UBND xã làm sổ hộ khẩu sau đó vào miền Nam làm ăn. Nhưng từ đó gia đình không liên lạc được với ông H và ông H cũng không có lần nào về quê chơi. Gia đình đã đi tìm và hỏi thăm tin tức nhiều người ở nhiều nơi nơi nhưng không ai biết ông H đi đâu? Còn sống hay đã chết. Bà L1 và các con bà L1 vẫn thường xuyên về quê hỏi thăm tin tức ông H nhưng không ai biết tin tức gì về ông H.

* Công an xã NM, huyện Q, thành phố Hà Nội xác nhận:

Từ năm 2001 đến nay chưa phát hiện trường hợp nào có tên là Nguyễn Doãn H ( tức Nguyễn Quang H) tại thôn N, xã NM, huyện Q, thành phố Hà Nội.

* Tại phiên họp, người yêu cầu vẫn giữ nguyên yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Doãn H đã chết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết việc dân sự:

Về tố tụng: Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thụ lý vụ án, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự, thập chứng cứ và ra quyết định mở phiên họp.

Về nội dung vụ việc: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Doãn H là đã chết. Về xác định ngày chết của ông Nguyễn Doãn H, do không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng của ông H, chỉ biết ông H đã bỏ đi biệt tích từ năm 1999 đến nay không có tin tức gì nên căn cứ vào Điểm d Khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự, đề nghị xác định ngày chết của ông Nguyễn Doãn H là ngày 01/01/2005.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Q nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết có nơi cư trú cuối cùng tại thôn N, xã NM, huyện Q, thành phố Hà Nội nên thẩm quyền giải quyết vụ việc thuộc Tòa án nhân dân huyện Q theo quy định tại Khoản 4 Điều 27, Điểm a Khoản 2 Điều 35 và Điểm b Khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Từ năm 1999, ông Nguyễn Doãn H đã bỏ đi khỏi nơi cư trú. Bà L1 và gia đình đã tìm kiếm nhiều năm nhưng vẫn không có tin tức gì của ông H. Từ năm 1999 đến nay, ông H không về địa phương, không liên lạc với gia đình, gia đình và địa phương không ai biết thông tin xác thực ông Nguyễn Doãn H đang ở đâu, còn sống hay đã chết. Bà L1 đã làm thông báo nhắn tìm ông H ở đâu về ngay nhà để giải quyết việc tặng cho tài sản các con gái đăng lên báo Công Lý ba số báo liên tiếp là 76, 77, 78 ra các ngày 22, 24, 29 tháng 9 năm 2021 và Đài phát thanh VOV2 phát vào hồi 17 giờ 30 phút các ngày 14, 15, 16 tháng 10 năm 2021 nhưng từ đó đến nay vẫn không có tin tức gì.

Ngày 12 tháng 02 năm 2022, bà L1 đã có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Q tuyên bố ông Nguyễn Doãn H đã chết. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà L1, Tòa án đã thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết trên báo Công Lý số 20, 21, 22 ra các ngày 11, 15, 18 tháng 3 năm 2022 và đã tiến hành phát tin thông báo tìm kiếm ông H trên VOV2 vào hồi 17giờ 30 các ngày 15,16,17 tháng 3 năm 2022 theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đến hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng phát thông báo lần đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc ông Nguyễn Doãn H còn sống hay đã chết. Do vậy, yêu cầu của bà L1 tuyên bố ông Nguyễn Doãn H là đã chết là phù hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự và Điều 391 và 393 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xác định ngày chết của ông Nguyễn Doãn H: Theo quy định tại điểm d khoản 1 và khoản 2 Điều 71 Bộ luật dân sự, Tòa án nhân dân huyện Q xác định ngày ông H chết là ngày 01/01/2005

Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố ông Nguyễn Doãn H chết được xác định và thực hiện theo quy định tại Điều 72 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị L1 được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định tại đểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội nước Cộng H xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 361, 366, 367, 369, 370, 371, 372 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điểm đ Khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2017 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

1. Chấp nhận Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 12/02/2022 của bà Nguyễn Thị L1:

Tuyên bố ông Nguyễn Doãn H (tức ông Nguyễn Quang H), sinh năm 1960; Sinh quán và nơi cư trú cuối cùng: Thôn N, xã NM, huyện Q, thành phố Hà Nội đã chết kể từ ngày 01/01/2005.

2. Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố ông Nguyễn Doãn H đã chết:

2.1. Kể từ ngày quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.

2.2. Quan hệ tài sản của ông Nguyễn Doãn H được giải quyết như đối với người đã chết. Tài sản của ông Nguyễn Doãn H (nếu có) được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Lệ phí giải quyết việc dân sự:

Bà Nguyễn Thị L1 thuộc đối tượng là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2017 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày. Viện kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ