vanban.org

Quyết định 42/2018/QĐ-PT — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 26/11/2018 Kinh doanh thương mại Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/11/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giữ nguyên Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2018/QĐST-KDTM ngày 17 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố HP.

Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên ĐD phải chịu 2.000.000 (Hai triệu) đồng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm. Nguyên đơn đã nộp 300.000 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Xét quyết định tạm đình chỉ vụ án Ngân hàng Thương mại Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đại Dương"
  • Tòa quyết gì? Giữ nguyên Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2018/QĐST-KDTM ngày 17 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố HP.
  • Căn cứ chính? Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 42/2018/QĐ-PTHải Phòng, ngày 26 tháng 11 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH TẠM ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên họp: Bà Vũ Thị Thu Hà

Các thẩm phán:

Ông Lương Ngọc Dũng

Bà Nguyễn Thị Thu Thủy.

Tại Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2018/QĐST-KDTM ngày 17 tháng 9 năm 2018.

Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đã căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 214 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" giữa:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên ĐD; trụ sở: Số 199, NLB, phường TB, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

Người đại điện theo pháp luật: Ông Đỗ Thanh S – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoài P – Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Hải Phòng; ông Đỗ Văn T – Chức vụ: Phó Giám đốc Chi nhánh Hải Phòng và bà Trần Thị Thúy H – Chức vụ: Phó Giám đốc Phòng khách hàng doanh nghiệp Chi nhánh Hải Phòng (Văn bản ủy quyền số 101/2018/Oceanbank.05.02 ngày 07/3/2018).

- Bị đơn: Công ty Cổ phần Đầu tư hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ HP, trụ sở: Số 193, PM, xã TD, huyện TN, thành phố Hải Phòng.

Người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Thanh N, sinh năm 1952; nơi ĐKHKTT: Số 13/79/85 PC, phường GV, quận NQ, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Số 259, đường ĐN, quận NQ, thành phố Hải Phòng.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Thanh N, sinh năm 1952; nơi ĐKHKTT: Số 13/79/85 PC, phường GV, quận NQ, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Số 259, đường ĐN, quận NQ, thành phố Hải Phòng.

+ Bà Vũ Thị B, sinh năm 1959; nơi ĐKHKTT: Số 13/79/85 PC, phường GV, quận NQ, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Số 259, đường ĐN, quận NQ, thành phố Hải Phòng.

+ Ông Hoàng Đình T, sinh năm 1954 và vợ bà Nguyễn Thị Kim, sinh năm 1959; địa chỉ: Số 25/319 ĐN, phường VM, quận NQ, thành phố Hải Phòng.

+ Bà Trần Thị Lược, sinh năm 1946; ĐKHKTT: Số 11, ngõ phụ 43, ngõ 136, đường NQ, phường MC, quận NQ, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Số 7, ngõ 129, đường Vòng VM, quận NQ, thành phố Hải Phòng.

+ Anh Nguyễn Minh C, sinh năm 1989 và vợ Nguyễn Kim C1, sinh năm 1989; địa chỉ: Số 2/28 đường LKT, quận NQ, thành phố Hải Phòng.

Tại Đơn kháng cáo ngày 03 tháng 10 năm 2018 Ngân hàng Thương mại Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên ĐD đã kháng cáo đề nghị hủy Quyết định tạm đình chỉ số 05/2018/QĐST-KDTM ngày 17 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố HP và đưa vụ án ra xét xử với lý do:

Việc TAND huyện Thủy Nguyên, thành phố HP ban hành Công văn số 330/TA-TN ngày 21/9/2018 để yêu cầu Cơ quan công an xác minh về tài sản là không đúng tố tụng. Nếu Tòa án xác minh có dấu hiệu tẩu tán tài sản và có đủ các yếu tố cấu thành tội tẩu tán tài sản thì được quyền yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự. Nhưng cần khẳng định lại rằng đây là vụ án kinh doanh thương mại, quan hệ pháp luật giải quyết là trên cơ sở trách nhiệm dân sự. Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên không tiến hành việc thẩm định để định giá tài sản, kiểm tra và có biện pháp đối với tài sản đã tranh chấp trong vụ án dẫn đến việc vụ án kéo giải quyết vụ án, vi phạm thủ tục tố tụng. Do đó, việc Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên ban hành Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án là không có căn cứ.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố HP phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và quan điểm giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố HP ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2018/QĐST-KDTM ngày 17 tháng 9 năm 2018 theo điểm d khoản 1 Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự là hoàn toàn có căn cứ bởi lẽ: Cần phải xác định tình trạng pháp lý của những tài sản là động sản mới có căn cứ để giải quyết vụ án. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.

XÉT THẤY:

Thời hạn kháng cáo: Thời hạn kháng cáo của nguyên đơn đối với Quyết định tạm đình chỉ là đúng thời hạn nên cần chấp nhận, xem xét đơn kháng cáo của nguyên đơn theo quy định của pháp luật.

Đánh giá việc ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, Hội đồng phúc thẩm nhận thấy như sau:

Quá trình giải quyết vụ án và tại Công văn số 330/TA-TN ngày 21 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên gửi Công an huyện Thủy Nguyên, thành phố HP đã nêu rõ:

“Những vấn đề cụ thể nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết bao gồm:

Yêu cầu Công ty cổ phần đầu tư hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ HP và những người có liên quan (theo giá trị tài sản thế chấp của bên thứ 3) phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ tính đến ngày 30/9/2017 (Của hợp đồng tín dụng số 007-201 l/HDTD/OJB-HP ký ngày 28/02/2011 và Hợp đồng tín dụng số 036-201 l/HDTD/OJB-HP ký ngày 20/05/2011) tổng cộng là 25.622.150.336 đồng (gồm 6.820.000.000 đồng tiền nợ gốc và 18.802.150.336 đồng tiền nợ lãi và phạt).

1. Trường họp Công ty cổ phần đầu tư hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ HP và những người có liên quan không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án kê biên, phát mại toàn bộ tài sản bảo đảm đế thu hồi nợ trong đó có:

Tài sản 4: Máy đào bánh xích HYUNDAI ROBEX 300LC-7, biển số 15XA-0409, số khung HHIHN810LA0001681, số động cơ D6AC A198318, xuất sứ Hàn Quốc, sản xuất năm 2010; màu sơn: Vàng - đen; Tên chủ sở hữu: Công ty; địa chỉ: số 9 Hoàng Diệu, Minh Khai, Hồng Bàng, HP; đăng ký lần đầu ngày: 19/5/2011.

Tài sản 5: Máy đào bánh xích HYUNDAI ROBEX 450LO7, biển số 15XA-0041, số khung HHIHNB01CB0001189, số động cơ 35271187, xuất sứ Hàn Quốc, sản xuất năm 2010; màu sơn: Vàng - đen; Tên chủ sở hữu: Công ty; địa chỉ: Số 9 Hoàng Diệu, Minh Khai, Hồng Bàng, HP; đăng ký lần đầu ngày: 23/5/2011.

Theo họp đồng thế chấp, trong thời gian thế chấp Công ty được tiếp tục sử dụng, khai thác tài sản theo đúng các chức năng bình thường của tài sản với điều kiện Công ty phải chịu sự kiểm tra, giám sát của Ngân hàng. Ngoài ra, Công ty có nghĩa vụ giữ gìn, bảo quản tài sản bảo đảm, không được sử dụng, hoặc thực hiện bất kỳ biện pháp nào có thể ảnh hưởng, làm giảm giá trị tài sản bảo đảm; Công ty có nghĩa vụ thông báo ngay cho Ngân hàng các sự kiện: Tài sản bị mất, hư hỏng, thiệt hại; Sự kiện có thể ảnh hưởng, gây thiệt hại tới tài sản bảo đảm; Công ty có nghĩa vụ tạo điều kiện thuận lợi cho Ngân hàng kiểm tra tài sản thế chấp.

Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không họp tác, không có ý kiến về việc giải quyết vụ án, không đến Tòa án làm việc theo các văn bản tố tụng của Tòa án. Hiện nay, Ngân hàng và Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên không biết: Tài sản bảo đảm hiện nay đang ở đâu và ai là người quản lý tài sản bảo đảm nêu trên.

Do' vậy, có dấu hiệu bị đơn cố tình tẩu tán tài sản thế chấp nên đề nghị Cơ quan công an huyện Thủy Nguyên, thành phố HP làm rõ:

- Công ty Cổ phần Đầu tư hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ HP có hành vi cố tình tẩu tán tài sản thế chấp là 02 máy đào bánh xích nêu trên không?

- Hiện nay tài sản bảo đảm là 02 máy đào bánh xích nêu trên đang ở đâu? Ai là người quản lý?

Tòa án nhân dân dân huyện Thủy Nguyên ban hành Công văn trên là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật bởi lẽ: Tài sản bảo đảm (đã nêu trong Công văn) là động sản nên tài sản bảo đảm bị đơn vẫn đang quản lý, sử dụng. Hiện tại, bị đơn không hợp tác, không có ý kiến về việc giải quyết vụ án. Do vậy, để giải quyết được vụ án (liên quan đến việc xử lý được tài sản bảo đảm) buộc Tòa án phải xác định được tình trạng pháp lý của tài sản trên. Chính bởi lẽ trên, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên đã căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại số 05/2018/QĐST-KDTM ngày 17 tháng 9 năm 2018.

Từ phân tích nêu không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

Từ những nhận định nêu trên,

Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Giữ nguyên Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2018/QĐST-KDTM ngày 17 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố HP.

2. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên ĐD phải chịu 2.000.000 (Hai triệu) đồng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm. Nguyên đơn đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0000018 ngày 15/10/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên. Như vậy, nguyên đơn còn phải nộp 1.700.000 (Một triệu bẩy trăm nghìn) đồng.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.

Cỡ chữ