vanban.org

Quyết định 410/2024/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 08/07/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Hồ Thị Mỹ H.

Tuyên bố ông Hồ Thái B, sinh năm 1976 cư trú tại Số F Tỉnh lộ 7, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh mất năng lực hành vi dân sự, kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Hồ Thị Mỹ H.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 410/2024/QĐST-DS
Củ Chi, ngày 08 tháng 7 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Huỳnh Thạch Vũ.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Như Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Ngọc Diệu - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 146/2024/TLST-VDS ngày 01 tháng 3 năm 2024 về việc“Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 184/2024/QĐST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 321/2024/QĐST-VDS ngày 24/6/2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Hồ Thị Mỹ H, sinh năm 1966;

Địa chỉ: Số F Tỉnh lộ 7, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Hồ Thái B, sinh năm 1976;

Địa chỉ: Số F Tỉnh lộ 7, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

- Ông Hồ H1, sinh năm 1955;

Địa chỉ: Số F Tỉnh lộ 7, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (Xin vắng mặt).

- Bà Hồ Thị Phú N, sinh năm 1964;

Địa chỉ: Số C Lô E chung cư L, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Xin vắng mặt).

- Bà Hồ Thị Minh L, sinh năm 1969;

Địa chỉ: Số F Tỉnh lộ 7, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (Xin vắng mặt).

- Ông Hồ Liên Hiệp Đ, sinh năm 1972;

Địa chỉ: Số A đường Đ, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Xin vắng mặt).

- Bà Hồ Thị Định T, sinh năm 1974;

Địa chỉ: Số F Tỉnh lộ 7, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

- Ông Hồ Bảo Q, sinh năm 1977;

Địa chỉ: Số C Lô E chung cư L, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Xin vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự nộp ngày 05/01/2024, bản tự khai ngày 03/6/2024 và tại phiên họp, người yêu cầu giải quyết việc dân sự là bà Hồ Thị Mỹ H trình bày:

Bà là con ruột của ông Hồ Lưu B1, sinh năm 1932, chết năm 2023 và bà Trang Thị B2, sinh năm 1935, chết năm 2019. Cha mẹ bà có 11 người con gồm: Bà là Hồ Thị Mỹ H, sinh năm 1966; ông Hồ H1, sinh năm 1955; bà Hồ Thị Như N1, sinh năm 1958, chết năm 1989; ông Hồ Vân H2, sinh năm 1959, chết năm 2013; bà Hồ Vân N2, sinh năm 1962, chết năm 2021; bà Hồ Thị Phú N, sinh năm 1964; bà Hồ Thị Minh L, sinh năm 1969; ông Hồ Liên Hiệp Đ, sinh năm 1972; bà Hồ Thị Định T, sinh năm 1974; ông Hồ Thái B, sinh năm 1976 và ông Hồ Bảo Q, sinh năm 1977.

Trong đó, ông Hồ Thái B lúc còn nhỏ sau khi gặp tai nạn giao thông đã ảnh hưởng đến não và bị bệnh tâm thần, không nhận thức được mọi việc, không có vợ con. Nay gia đình bà cần thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế của ông B1, bà B2 nên bà yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi tuyên bố ông Hồ Thái B, sinh năm 1976; địa chỉ: Số F Tỉnh lộ 7, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh mất năng lực hành vi dân sự.

Tại Bản tự khai ngày 03/6/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Hồ H2 trình bày:

Ông là con ruột của ông Hồ Lưu B1, sinh năm 1932, chết năm 2023 và bà Trang Thị B2, sinh năm 1935, chết năm 2019. Cha mẹ ông có 11 người con đúng như bà H trình bày. Trong đó, ông Hồ Thái B bị bệnh tâm thần từ nhỏ, không nhận thức được mọi việc và không có vợ con. Nay bà H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi tuyên bố ông Hồ Thái B, sinh năm 1976; địa chỉ: Số F Tỉnh lộ 7, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh mất năng lực hành vi dân sự để gia đình thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế của ông B1, bà B2 thì ông thống nhất, không có ý kiến gì khác.

Tại Bản tự khai ngày 03/6/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Hồ Thị Phú N trình bày:

Bà là con ruột của ông Hồ Lưu B1, sinh năm 1932, chết năm 2023 và bà Trang Thị B2, sinh năm 1935, chết năm 2019. Cha mẹ bà có 11 người con đúng như bà H trình bày. Trong đó, ông Hồ Thái B bị bệnh tâm thần từ nhỏ, không nhận thức được mọi việc và không có vợ con. Nay bà H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi tuyên bố ông Hồ Thái B, sinh năm 1976; địa chỉ: Số F Tỉnh lộ 7, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh mất năng lực hành vi dân sự để gia đình thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế của ông B1, bà B2 thì bà thống nhất, không có ý kiến gì khác.

Tại Bản tự khai ngày 03/6/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Hồ Thị Minh L trình bày:

Bà là con ruột của ông Hồ Lưu B1, sinh năm 1932, chết năm 2023 và bà Trang Thị B2, sinh năm 1935, chết năm 2019. Cha mẹ bà có 11 người con đúng như bà H trình bày. Trong đó, ông Hồ Thái B bị bệnh tâm thần từ nhỏ, không nhận thức được mọi việc và không có vợ con. Nay bà H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi tuyên bố ông Hồ Thái B, sinh năm 1976; địa chỉ: Số F Tỉnh lộ 7, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh mất năng lực hành vi dân sự để gia đình thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế của ông B1, bà B2 thì bà thống nhất, không có ý kiến gì khác.

Tại Bản tự khai ngày 03/6/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Hồ Liên Hiệp Đ trình bày:

Ông là con ruột của ông Hồ Lưu B1, sinh năm 1932, chết năm 2023 và bà Trang Thị B2, sinh năm 1935, chết năm 2019. Cha mẹ ông có 11 người con đúng như bà H trình bày. Trong đó, ông Hồ Thái B bị bệnh tâm thần từ nhỏ, không nhận thức được mọi việc và không có vợ con. Nay bà H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi tuyên bố ông Hồ Thái B, sinh năm 1976; địa chỉ: Số F Tỉnh lộ 7, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh mất năng lực hành vi dân sự để gia đình thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế của ông B1, bà B2 thì ông thống nhất, không có ý kiến gì khác.

Tại Bản tự khai ngày 03/6/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Hồ Bảo Q trình bày:

Ông là con ruột của ông Hồ Lưu B1, sinh năm 1932, chết năm 2023 và bà Trang Thị B2, sinh năm 1935, chết năm 2019. Cha mẹ ông có 11 người con đúng như bà H trình bày. Trong đó, ông Hồ Thái B bị bệnh tâm thần từ nhỏ, không nhận thức được mọi việc và không có vợ con. Nay bà H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi tuyên bố ông Hồ Thái B, sinh năm 1976; địa chỉ: Số F Tỉnh lộ 7, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh mất năng lực hành vi dân sự để gia đình thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế của ông B1, bà B2 thì ông thống nhất, không có ý kiến gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý và tại phiên họp, Thẩm phán đã tuân thủ và thực hiện đúng theo quy định tại Điều 48, Điều 366 và Điều 377 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, cần khắc phục vi phạm về thời gian chuẩn bị xét đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự.

Về nội dung: Xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc và lời trình bày của người yêu cầu tại phiên họp, đề nghị Thẩm phán Chủ tọa phiên họp áp dụng Điều 22 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 369, Điều 370, Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Thị Mỹ H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Theo nội dung Đơn yêu cầu tuyên bố ông Hồ Thái B mất năng lực hành vi dân sự nộp ngày 05/01/2024 của bà Hồ Thị Mỹ H, có cơ sở xác định yêu cầu của bà H là “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo quy định tại Khoản 1 Điều 27 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự là ông Hồ Thái B có nơi cư trú tại Số F Tỉnh lộ 7, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 35 và Điểm a Khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Hồ Thái B, bà Hồ Thị Định T vắng mặt tại phiên họp và ông Hồ H2, bà Hồ Thị Phú N, bà Hồ Thị Minh L, ông Hồ Liên Hiệp Đ, ông Hồ Bảo Q có đơn xin vắng mặt. Xét sự vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc giải quyết việc dân sự nên Tòa án nhân dân huyện Củ Chi vẫn tiến hành phiên họp theo quy định tại Khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về quyền yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự:

Cha mẹ của ông Hồ Thái B là ông Hồ Lưu B1 bà Trang Thị B2 đã chết. Bà Hồ Thị Mỹ H là chị ruột của ông Hồ Thái B và hiện bà H đang là người trực tiếp chăm sóc ông B nên có quyền yêu cầu tuyên bố ông B mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 376 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về yêu cầu của đương sự: Bà Hồ Thị Mỹ H là con ruột của ông Hồ Lưu B1, sinh năm 1932, chết năm 2023 theo Trích lục khai tử số 677/2023/TLKT-BS ngày 14/9/2023 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh và bà Trang Thị B2, sinh năm 1935, chết năm 2019 theo Trích lục khai tử số 74/2019/TLKT ngày 17/9/2019 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Cha mẹ bà có 11 người con gồm: Bà là Hồ Thị Mỹ H, sinh năm 1966; ông Hồ H2, sinh năm 1955; bà Hồ Thị Như N1, sinh năm 1958, chết năm 1989; ông Hồ Vân H2, sinh năm 1959, chết năm 2013; bà Hồ Vân N2, sinh năm 1962, chết năm 2021; bà Hồ Thị Phú N, sinh năm 1964; bà Hồ Thị Minh L, sinh năm 1969; ông Hồ Liên Hiệp Đ, sinh năm 1972; bà Hồ Thị Định T, sinh năm 1974; ông Hồ Thái B, sinh năm 1976 và ông Hồ Bảo Q, sinh năm 1977. Trong đó, ông Hồ Thái B lúc còn nhỏ sau khi gặp tai nạn giao thông đã ảnh hưởng đến não và bị bệnh tâm thần, không nhận thức được mọi việc. Ông B không có vợ con.

Nay gia đình bà cần thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế của ông B1, bà B2 nên ông yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi tuyên bố ông Hồ Thái B, sinh năm 1976; địa chỉ: Số F Tỉnh lộ 7, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh mất năng lực hành vi dân sự.

Ngày 10/4/2024, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số: 18/2024/QĐ-TA đối với ông Hồ Thái B. Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số: 2699/KLGĐ ngày 12/4/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần Khu vực Thành phố H thuộc Bộ Y kết luận:

“1.1 Về y học:

Đương sự bị chậm phát triển tâm thần mức độ trung bình/ Động kinh sau Chấn thương sọ não/ Biến đổi nhân cách và hành vi thực tổn (F71/G40/F07.8-ICD10).

1.2 Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi:

Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.”

Do đó, Tòa án có đủ cơ sở tuyên bố ông Hồ Thái B mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 22 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Xét ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tại phiên họp có cơ sở nên chấp nhận.

Về lệ phí: Bà Hồ Thị Mỹ H phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 27, Điểm a Khoản 2 Điều 35, Điểm a Khoản 2 Điều 39, Khoản 1 Điều 149, Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 376 và Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Hồ Thị Mỹ H.

Tuyên bố ông Hồ Thái B, sinh năm 1976 cư trú tại Số F Tỉnh lộ 7, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh mất năng lực hành vi dân sự, kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Bà Hồ Thị Mỹ H phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng bà H đã nộp theo biên lai số AA/2023/0019370 ngày 29/02/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Củ Chi. Bà H đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 10 (Mười) ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (Mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.

4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ