- Tranh chấp gì? "Lê Quốc T - Cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Lê Quốc T.
- Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN X TỈNH BÀ RỊA–VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 41/QĐ-TA | X, ngày 18 tháng 3 năm 2025. |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN X, TỈNH BÀ RỊA–VŨNG TÀU
Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Lê Bá Khuyến.
2. Thư ký phiên họp: Ông Bùi Văn Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Bà Rịa– Vũng Tàu tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 37/QĐ-TA, ngày 11 tháng 3 năm 2025 đối với:
Họ và tên: Lê Quốc T. Giới tính: Nam.
Sinh ngày 23 tháng 12 năm 1990.
Căn cước công dân số: 07709…………158. Ngày cấp: 13/01/2022. Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý Hành chính về Trật tự Xã hội-Bộ Công an.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: 9/12.
Nguyên quán: Tỉnh Quảng Bình.
Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố P1, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 19/8/2022, bị Tòa án nhân dân huyện X áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 14 tháng theo Quyết định số 27/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 12/6/2023 và ngày 04/12/2023, bị Tòa án nhân dân huyện X áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng theo Quyết định số 94/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 18/11/2024.
Con ông: Lê Văn L, sinh năm 1958 và bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1959.
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện Cơ quan đề nghị: Ông Lữ Tiến Giống – Chức vụ: Trưởng Công an thị trấn P, tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện X, tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu: Bà Phạm Thị Lệ Thủy – Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Công an thị trấn P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ban hành văn bản số 98/ĐN-CNBB, ngày 04/3/2025 về việc đề nghị Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu đối với anh Lê Quốc T về hành vi vi phạm như sau:
Tại bản tường trình và biên bản ghi lời khai ngày 14/02/2025 anh Lê Quốc T khai nhận, bản thân đang cư trú tại khu phố P1, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Thời gian bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2017, gần đây nhất là vào khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 13/02/2025 có sử dụng ma túy một mình tại nhà riêng. Do anh T có hành vi vi phạm và tự nguyện khai nhận nên ngày 14/02/2025, Công an thị trấn P đã thực hiện xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với anh T, kết quả xét nghiệm cho thấy anh T dương tính với ma túy. Trong ngày 14/02/2025, Công an thị trấn P đã có giấy đề nghị gửi đến Trạm Y tế thị trấn P, huyện X để đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy đối với anh T. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 15/02/2025 của Trạm Y tế thị trấn P, huyện X xác định anh T có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là Methamphetamine. Sau khi có kết quả, xác định anh T có nghiện ma túy và bản thân anh T đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện mà tái nghiện nên đã vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021. Vì vậy, ngày 15/02/2025 anh Lê Quốc T bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện X lập biên bản số 41/BB-VPHC về việc vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.
Từ những cơ sở và căn cứ nêu trên, ngày 17/02/2025 Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện X đã có Thông báo số 22/TB-UBND về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Cùng ngày, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện X có Quyết định số 80/QĐ-UBND về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Lê Quốc T và giao cho ông Lê Văn L, sinh năm 1958 là cha ruột quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ông L đồng ý quản lý và đã xác nhận bằng văn bản nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện X căn cứ khoản 1 Điều 131 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) và khoản 1 Điều 45 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 21/12/2021 giao anh T cho gia đình quản lý từ ngày 17/02/2025 đến khi có quyết định của Tòa án.
Sau khi lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo đúng thủ tục quy định tại Điều 41 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ; Điều 7 và Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC, ngày 01/3/2025 của Bộ Công an – Viện kiểm sát nhân dân Tối cao – Tòa án nhân dân Tối cao. Trưởng Công an thị trấn P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân huyện X xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại phiên họp:
- Đại diện Cơ quan đề nghị trình bày nội dung đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính:
Sau khi có Thông báo của Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện X. Trưởng Công an thị trấn P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nhận thấy: Anh Lê Quốc T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy thì anh T nghiện ma túy, loại Methamphetamine và đã bị cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm. Anh T được xác định là người có nơi cư trú ổn định nên thuộc đối tượng quy định tại Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) và là đối tượng quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú mà tái nghiện nên đã vi phạm khoản 4 Điều 32 của Luật phòng, chống ma túy năm 2021. Vì vậy, đề nghị Tòa án nhân dân huyện X xem xét ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T một thời gian, giúp anh T trở thành người có ích cho xã hội. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 15 đến 18 tháng.
- Ý kiến của Viện kiểm sát: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Thẩm phán, thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại các Điều 8, 9, 10, 12, 13, 15, 17 và Điều 21 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội (sau đây viết tắt là Pháp lệnh); người tham gia phiên họp thực hiện đúng quy định tại Điều 19, Điều 20 của Pháp lệnh.
Việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T là cần thiết, đề nghị Tòa án xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa anh T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như đề nghị của Trưởng Công an thị trấn P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
- Người bị đề nghị trình bày ý kiến về nội dung đề nghị của Cơ quan đề nghị:
Anh Lê Quốc T thừa nhận sử dụng ma túy nhiều lần, thời gian bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2017, gần đây nhất là vào khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 13/02/2025 có sử dụng ma túy một mình tại nhà riêng thuộc khu phố P1, thị trấn P, huyện X. Loại ma túy sử dụng là ma túy dạng Đá (Methamphetamine) và đề nghị Hội đồng phiên họp xem xét giảm thời gian chấp hành.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và nghe lời trình bày của Cơ quan đề nghị; người bị đề nghị tại phiên họp và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp.
XÉT THẤY:
1. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:
- Thời hiệu giải quyết: Ngày 15/02/2025, anh Lê Quốc T bị cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Ngày 18/3/2025, Tòa án mở phiên họp xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T là còn trong thời hiệu, theo quy định tại Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020).
- Thẩm quyền giải quyết: Thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu theo quy định tại Điều 3 của Pháp Lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân và khoản 2 Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020).
- Trình tự, thủ tục lập hồ sơ: Sau khi xác định anh Lê Quốc T là người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định, gia đình đồng ý quản lý và đại diện gia đình đã xác nhận bằng văn bản. Do đó, cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành thủ tục lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại các Điều 40, 41, 42, 43, 44 và 45 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ; Điều 103 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Điều 7 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC, ngày 01/3/2025 của Bộ Công an – Viện kiểm sát nhân dân Tối cao – Tòa án nhân dân Tối cao.
2. Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm:
Anh Lê Quốc T thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình. Lời khai của anh T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và phần trình bày của Cơ quan đề nghị. Xác định, ngày 13/02/2025 anh T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đến ngày 14/02/2025 Công an thị trấn P lập biên bản xét nghiệm chất ma túy. Căn cứ Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm Y tế thị trấn P, huyện X, ngày 15/02/2025 thì anh Lê Quốc T, sinh ngày 23/12/1990 có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là Methamphetamine. Hành vi của anh T đã vi phạm Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021.
3. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Tình tiết tăng nặng: Không.
- Tình tiết giảm nhẹ: Anh Lê Quốc T đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) xem xét giảm nhẹ một phần mức thời gian áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
4. Nhân thân: Ngày 07/02/2025, bị Chủ tịch Ủy ban nhân thị trấn P ra quyết định số 63/QĐ-UBND về quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú với thời hạn quản lý từ ngày 07/02/2025 đến ngày 07/02/2027.
5. Mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng:
Anh Lê Quốc T biết rõ ma túy, loại Methamphetamine (Đá) là chất gây nghiện, có sức tàn phá đối với sức khỏe, gây ảnh hưởng xấu đến gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm. Đồng thời, anh T cũng nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình là xâm phạm trực tiếp đến quản lý Nhà nước về phòng, chống ma túy.
6. Ý kiến của người tham gia phiên họp:
- Cơ quan đề nghị: Đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Lê Quốc T.
- Người bị đề nghị: Sau khi nghe Trưởng Công an thị trấn P trình bày nội dung đề nghị thì anh T đồng ý với ý kiến của Cơ quan đề nghị và xin Hội đồng phiên họp xem xét giảm thời gian chấp hành.
7. Lý do, căn cứ áp dụng:
- Lý do áp dụng: Trưởng Công an thị trấn P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Lê Quốc T là cần thiết để hỗ trợ về y tế, tâm lý, xã hội, giúp anh T dừng sử dụng chất ma túy, phục hồi thể chất, tinh thần, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi để chấm dứt việc sử dụng trái phép chất ma túy. Đồng thời, làm giảm tác hại liên quan đến hành vi sử dụng trái phép chất ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và cộng đồng.
- Căn cứ áp dụng: Căn cứ vào các Điều 3, 6, 9, 95, 96, 103, 104, 105, 110 và 131 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020); Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; các Điều 2, 3, 7, 8, 20, 22, 23, 30, 31, 32 và 33 của Pháp Lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; các Điều 40, 41, 42, 43, 44 và Điều 45 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ; Điều 7, Điều 8 và Điều 11 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC, ngày 01/3/2025 của Bộ Công an – Viện kiểm sát nhân dân Tối cao – Tòa án nhân dân Tối cao.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Lê Quốc T.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị và thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị:
Thời hạn khiếu nại của người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định;
Thời hạn kiến nghị của cơ quan đề nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thị trấn P, tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu tổ chức thi hành quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - Người bị áp dụng; - Trưởng Công an thị trấn P; - VKSND huyện X; - UBND TT. P, huyện X; - TAND tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. | THẨM PHÁN (Đã ký và đóng dấu) Lê Bá Khuyến |