- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa P-H"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2026/HNGĐ-ST Ngày: 02.02.2026 V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Cương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Phương.
2. Bà Trịnh Thị Ngọc Diễm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Yến Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 185/2025/HNGĐ-ST, ngày 09/10/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 06/01/2026, về việc "Tranh chấp ly hôn", giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn P, sinh năm 1992. (Vắng mặt)
Trú tại: khu vực A, phường Ngã Bảy, thành phố Cần Thơ
Bị đơn: Bà Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1993. (Vắng mặt)
Trú tại: khu vực A, phường Ngã Bảy, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 09/10/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Tấn P trình bày:
Ông và bị đơn quen biết tìm hiểu và đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn năm 2014 tại Ủy ban nhân dân phường Lái Hiếu, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang (nay là Ủy ban nhân dân phường Ngã Bảy, thành phố Cần Thơ), hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.
Thời gian đầu cuộc sống hạnh phúc; sau thời gian chung sống thì phát sinh mâu thuẫn không thể hoà giải được, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung đã cố gắng hàn gắn nhưng không được, ông và bị đơn đã ly thân một thời gian. Xét thấy vợ chồng không thuận hoà, hạnh phúc gia đình không đạt được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể tiếp tục chung sống cùng nhau được nữa và chúng tôi đã ly thân nên nay tôi xin được ly hôn với bị đơn.
Về con chung: Có 02 con chung tên là Nguyễn Phát Đ, sinh ngày 05/8/2011 và Nguyễn Tấn P, sinh ngày 08/12/2012. Sau khi ly hôn tôi yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có,không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nay do bận công việc gia đình nên tôi xin được xét xử vắng mặt.
Bị đơn bà Nguyễn Ngọc H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không trình bày lời khai cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không tham dự phiên tòa.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Đối với các đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho ông Nguyễn Tấn P được ly hôn bà Nguyễn Ngọc H; về con chung: giao cho nguyên đơn được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung cho đến khi trưởng thành, bị đơn không cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung không có không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Tấn P có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn bà Nguyễn Ngọc H đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về quan hệ pháp luật: Ông Nguyễn Tấn P khởi kiện xin ly hôn với bà Nguyễn Ngọc H, đây là vụ kiện tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và bà Nguyễn Ngọc H có nơi cư trú tại phường Ngã Bảy, thành phố Cần Thơ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Cần Thơ theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Ông P và bà H quen biết, tìm hiểu nhau một thời gian rồi đi đến hôn nhân. Ông bà được hai bên gia đình tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn năm 2014 tại Ủy ban nhân dân phường Lái Hiếu, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang (nay là Ủy ban nhân dân phường Ngã Bảy, thành phố Cần Thơ), do đó hôn nhân của ông bà là hợp pháp.
Thời gian đầu cuộc sống gia đình hạnh phúc; nhưng thời gian gần đây thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, giữa hai vợ chồng không có tiếng nói chung, dẫn đến gia đình bất hòa, đã cố sức hàn gắn nhưng không được. Ông P và bà H đã ly thân một thời gian, hiện tại mỗi người có một cuộc sống riêng. Nhận thấy ông P và bà H đã không sống chung trong một thời gian, ông bà không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho ông P được ly hôn bà H theo quy định của Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Có 02 con chung tên là Nguyễn Phát Đ, sinh ngày 05/8/2011 và Nguyễn Tấn P, sinh ngày 08/12/2012. Hiện tại các con chung đang ở cùng nguyên đơn và các cháu Nguyễn Phát Đ, Nguyễn Tấn P cũng có nguyện vọng được ở với nguyên đơn. Nhằm tránh gây xáo trộn cuộc sống của các cháu nên Hội đồng xét xử thống nhất giao các con chung cho ông P tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Ông P không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung nên bà H chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm lom, chăm sóc, giáo dục con chung cho bà H không ai được quyền cản trở.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39, khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án..
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho ông Nguyễn Tấn P được ly hôn bà Nguyễn Ngọc H.
Về con chung: Giao hai con chung tên là Nguyễn Phát Đ, sinh ngày 05/8/2011 và Nguyễn Tấn P, sinh ngày 08/12/2012 cho ông Nguyễn Tấn P trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Ông P không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung nên bà H chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm lom, chăm sóc, giáo dục con chung cho bà H không ai được quyền cản trở.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Tấn P phải nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0004807 ngày 09/10/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 13 – Cần Thơ thành án phí, nguyên đơn không phải nộp thêm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, được quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND TP. Cần Thơ; - VKSND khu vực 13 – Cần Thơ; - Phòng THA DS khu vực 13 – Cần Thơ; - UBND phường Ngã Bảy; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Kim Cương |