vanban.org

Quyết định 41/2023/QĐCNHGT-DS — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

TAND huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 08/06/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 15 tháng 5 năm 2023, cụ thể như sau:

Về nợ hụi họ: Bà Lương Thị T1 tổ chức hụi họ và bà Lương Thị T có tham gia góp hụi cùng bà. Tính đến khi bà T1 dừng hụi (thắng 9/2011), bà T đã góp với bà T1 ba chân hụi của 3 nhóm hụi khác nhau. Hai bên chốt nợ, bà T1 nợ bà T tổng là 97.600.000đ (Chín bảy triệu sáu trăm nghìn đồng). Sau đó bà T1 đã… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Lương Thị T - Lương Thị T1"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 15 tháng 5 năm 2023, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOẰNG HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 41/2023/QĐCNHGT-DSHoằng Hóa, ngày 31 tháng 5 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÕA GIẢI THÀNH TẠI TÕA ÁN

Căn cứ các điều 32, 33, 34 và 35 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Căn cứ yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành của bà Lương Thị T và bà Lương Thị T1. Sau khi nghiên cứu:

- Đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 4 năm 2023 của bà Lương Thị T.

- Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 31 tháng 5 năm 2023 về việc thỏa thuận giải quyết toàn bộ tranh chấp của các bên tham gia hòa giải sau đây: Người khởi kiện: Bà Lương Thị T, sinh năm 1952 Địa chỉ: Thôn 3, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa Người bị kiện: Bà Lương Thị T1, sinh năm 1963 Địa chỉ: Thôn Đ, xã Tr, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

- Các tài liệu kèm theo Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án và các tài liệu do Tòa án thu thập được theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Kết quả hòa giải thành được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 15 tháng 5 năm 2023 có đủ các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 15 tháng 5 năm 2023, cụ thể như sau:

- Về nợ hụi họ: Bà Lương Thị T1 tổ chức hụi họ và bà Lương Thị T có tham gia góp hụi cùng bà. Tính đến khi bà T1 dừng hụi (thắng 9/2011), bà T đã góp với bà T1 ba chân hụi của 3 nhóm hụi khác nhau. Hai bên chốt nợ, bà T1 nợ bà T tổng là 97.600.000đ (Chín bảy triệu sáu trăm nghìn đồng). Sau đó bà T1 đã trả được cho bà T 4.600.000đ. Hiện bà T1 còn nợ bà T tổng số tiền góp hụi là 93.000.000đ (Chín ba triệu đồng). Về tiền lãi: Các bên thống nhất thỏa thuận: Không tính lãi trên số tiền nợ hụi. Việc tổ chức hụi là việc riêng của bà T và và T1, không liên quan đến chồng, con bà T và chồng con bà T1.

- Về phương thức trả nợ: Các bên thống nhất: Bà Lương Thị T cho bà Lương Thị T1 số tiền nợ là 48.000.000đ (Bốn tám triệu đồng), số tiền còn lại là 45.000.000đ (Bốn lăm triệu đồng) bà T1 phải trả dần cho bà T trong vòng 02 năm, thời gian trả tính từ tháng 10/2023. Mỗi tháng bà T1 trả cho bà T số tiền là 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Sau khi có quyết định có hiệu lực của Tòa án, nếu bà Lương Thị T1 không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bà Lương Thị T có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự buộc bà T1 phải trả toàn bộ số tiền còn lại mà bà T1 phải trả cho bà T như hai bên đã thỏa thuận ở trên. Kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực pháp luật, nếu T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chưa thi hành án, hàng tháng bà T1 còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015 trên số tiền phải thi hành án, tương ứng với thời gian chưa thi hành án. 2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Cỡ chữ