vanban.org

Quyết định 41/2022/QĐ-TA

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 03/11/2022 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Minh H.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc của Bùi Minh H là 16 (mười sáu) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bùi Minh H được quyền khiếu nại trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Minh H.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 41/2022/QĐ-TA
L, ngày 03 tháng 11 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Trần Văn Phương;

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thu Thảo.

Ngày 03 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh A tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 40/2022/QĐ-TA ngày 31 tháng 10 năm 2022, đối với:

Họ và tên: Bùi Minh H;

Giới tính: Nam;

Sinh năm: 1993;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Phật;

Trình độ văn hóa: 09/12;

Nghề nghiệp: Không có;

Hộ khẩu thường trú: số 17/47, khóm TH, phường MT, thành phố L, tỉnh A.

Chỗ ở: Có nơi cư trú ổn định;

Tiền án: 02 lần (01 lần tội danh cướp tài sản, 01 lần tội danh giết người)

Tiền sự: 01 lần (Vào ngày 04/02/2022, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, thời gian 03 tháng do có hành vi dụng trái phép chất ma túy tại thành phố L, tỉnh A)

Con ông: Bùi Văn Tr và bà: Nguyễn Thị Kiều O.

Người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Tô Thanh Tùng – Công chức Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố L, tỉnh A (theo Văn bản ủy quyền của Trưởng phòng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố L, tỉnh A).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L: Ông Kiều Văn Kiều – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY

Hồi 18 giờ 20 phút, ngày 28/09/2022 Công an phường MT mời H về thử test tìm chất ma túy, kết quả tiếp tục dương tính với Heroin. Quá trình thẩm vấn tại Công an phường MT, H thừa nhận có sử dụng ma túy trái phép từ năm 2020. Cũng trong ngày 28/09/2022 Công an phường MT hoàn tất thủ tục ban đầu và tham mưu UBND phường Quyết định giao H cho bà Nguyễn Thị Kiều O, hiện ngụ số 17/47 khóm TH, phường MT, thành phố L, tỉnh A, là mẹ ruột của Bùi Minh H, quản lý trong thời gian bổ sung thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Phiếu tổng hợp theo dõi để xác định tình trạng nghiện ngày 05/10/2022 của Trạm Y tế phường MT, thành phố L, kết luận H có nghiện Heroin. Ngày 18/10/2022, sau khi hoàn tất các thủ tục pháp lý, Chủ tịch UBND phường MT có Công văn số 16/ĐN-UBND, đề nghị đưa Bùi Minh H đi cai nghiện ma túy bắt buộc thời gian 24 tháng.

Tại phiên họp:

- Đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố L vẫn giữ nguyên đề nghị áp dụng biện pháp đưa Bùi Minh H vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh A với thời hạn 24 tháng.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp: (1) Việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán và Thư ký phiên họp đã thực hiện đúng quy định về trình tự, thủ tục xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị. Cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đã thực hiện đúng quy định theo Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014. Bùi Minh H vắng mặt tại phiên họp mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản là chưa thực hiện đúng theo Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014. (2) Việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Bùi Minh H thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Về tình tiết giảm nhẹ: Không có. Tình tiết tăng nặng: Ngày 04/02/2022, H bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, thời hạn áp dụng 03 tháng do có hành vi dụng trái phép chất ma túy tại thành phố L, tỉnh A. (3) Do đó, căn cứ các Điều 95, 96, điểm b, khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính, Điều 103 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính; đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Minh H, thời hạn áp dụng từ 18 đến 20 tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung phát biểu của đại diện Cơ quan đề nghị, ý kiến của người bị đề nghị và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, xét thấy:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố L đối với Bùi Minh H thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục tại các Điều 6, 96, 103 và Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho Bùi Minh H. Tuy nhiên tại phiên họp, H vẫn vắng mặt và không có đơn xin vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp vắng mặt của H theo khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về nhân thân: Căn cứ hồ sơ và lời khai của Bùi Minh H đã đủ cơ sở xác định Bùi Minh H có một tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Về hành vi vi phạm pháp luật: Lời khai của Bùi Minh H trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp phù hợp với các kết quả xét nghiệm ma túy; biên bản vi phạm hành chính; quyết định áp dụng xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Có đủ căn cứ xác định Bùi Minh H là người trên 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hành chính, có nơi cư trú ổn định, đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 28 tháng 09 năm 2022 và bị phát hiện. Do đó, cần có thời gian hỗ trợ cai nghiện để hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Vì vậy, đề nghị của Trưởng phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố L về việc đưa Bùi Minh H vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) nên được chấp nhận.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm: Bùi Minh H đã bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng lại tiếp tục vi phạm, nên thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Bùi Minh H vắng mặt tại phiên họp đã thể hiện H không có thái độ ăn năn hối cải. H không có tình tiết giảm nhẹ.

Căn cứ:

- Điều 6, điểm b khoản 1 Điều 10, các Điều 95, 96, 103, 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2020);

- Khoản 2 Điều 19, các Điều 22, 23, 30, 31 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bùi Minh H.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc của Bùi Minh H là 16 (mười sáu) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Bùi Minh H được quyền khiếu nại trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết theo quy định.

Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố L có quyền kiến nghị, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố L có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội phối hợp với Công an thành phố L đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ