vanban.org

Quyết định 41/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Bùi Thị H.

* Về hôn nhân: Chị Bùi Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn C. * Về con cái: Giao con chung của chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Văn C là Nguyễn Bùi Phi L – Sinh ngày 03/7/2015 và con riêng của chị Bùi Thị H là Nguyễn Bùi Bảo T – Sinh ngày 21/10/2010 cho chị Hằng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Văn C"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Bùi Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC LẶC
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 16/8/2021
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có.

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Xuân Vinh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thanh Hùng.

Ông Vũ Đình Do.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Trọng Hà là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện NL, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NL tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng Ngoạn - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện NL xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 107/2021/TLST - HNGĐ ngày 27/4/2021 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2021/QĐXX - ST ngày 28/7/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H - Sinh năm 1986. (Có mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C - Sinh năm 1976. (Có mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn MT, xã NÂ, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa chị Bùi Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 09/12/2014 tại UBND xã NÂ, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được khoảng 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh C không tu trí làm ăn, không quan tâm đến vợ con và gia đình. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, nên từ tháng 3/2021 chị và anh C đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn C theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn C có một con chung là Nguyễn Bùi Phi L – Sinh ngày 03/7/2015 và trước khi kết hôn với anh C chị có một con riêng tên là Nguyễn Bùi Bảo T – Sinh ngày 21/10/2010. Kể từ khi vợ chồng sống ly thân chị là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và con riêng, vợ chồng ly hôn, chị đề nghị Tòa án giải quyết giao con chung và con riêng cho chị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi thành niên, chị tự nguyện không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa anh bị đơn là anh Nguyễn Văn C trình bày: Anh và chị Bùi Thị H tự nguyện kết hôn với nhau và đăng ký kết hôn ngày 09/12/2014 tại UBND xã NÂ, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được khoảng 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không thống nhất cách làm ăn và cư sử trong gia đình. Hiện nay anh và chị H đã sống ly thân như chị Hằng trình bày là đúng. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đồng ý ly hôn theo đơn khởi kiện của chị Bùi Thị H.

Về con chung: Anh và chị Bùi Thị H có một con chung như chị H trình bày là đúng. Trước khi kết hôn chị H có một con riêng là Nguyễn Bùi Bảo T – Sinh ngày 21/10/2010. Khi làm giấy khai sinh cho con riêng của chị H, anh và chị H đã thỏa thuận cho con riêng của chị H mang họ của anh và anh sẽ làm cha của con riêng của chị H. Nay vợ chồng ly hôn anh đồng ý với yêu cầu giao nuôi con của chị H vì hiện nay anh đang ở chung với mẹ đẻ, anh chưa có công việc làm ổn định.

Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Việc tuân theo pháp luật Tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Bùi Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn C và giao con chung và con riêng cho chị H nuôi dưỡng, chăm sóc, chấp nhận sự tự nguyện của chị H về việc không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con, chị H phải chịu án phí ly hôn theo pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định.

. Về hôn nhân: Căn cứ lời trình bày của các đương sự và giấy chứng nhận kết hôn giữa anh Nguyễn Văn C và chị Bùi Thị H, đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh C là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét nguyện vọng ly hôn của chị H thấy rằng: Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn C xác định tình cảm vợ chồng không còn và đồng ý ly hôn theo yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị H, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, xử cho chị H được ly hôn anh C là phù hợp.

. Về con cái: Căn cứ lời trình bày của các đương sự và giấy khai sinh của cháu L và cháu T đủ cơ sở xác định chị H và anh C có một con chung là Nguyễn Bùi Phi L - Sinh ngày 03/7/2015 và chị H có một con riêng là Nguyễn Bùi Bảo T. Xét đề nghị của chị Bùi Thị H về việc xin được nuôi con chung, con riêng và tự nguyện không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con thấy rằng: Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn C đồng ý với yêu cầu của chị H về việc giao con chung và con riêng cho chị Bùi Thị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên. Chị Bùi Thị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung là hoàn toàn tự nguyện, nên chấp nhận đề nghị của H là phù hợp.

. Về tài sản: Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Văn C không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên về phần tài sản Hội đồng xét xử không xem xét.

. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử xét thấy: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Bùi Thị H.

* Về hôn nhân: Chị Bùi Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn C.

* Về con cái: Giao con chung của chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Văn C là Nguyễn Bùi Phi L – Sinh ngày 03/7/2015 và con riêng của chị Bùi Thị H là Nguyễn Bùi Bảo T – Sinh ngày 21/10/2010 cho chị Hằng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Bùi Thị H về việc không yêu cầu anh Nguyễn Văn C cấp dưỡng nuôi con.

Anh Nguyễn Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, ngăn cấm.

* Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Hằng đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số: AA/2019/0011751 ngày 26/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện NL. Chấp nhận chị Bùi Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Văn C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 16/8/2021.

Cỡ chữ