vanban.org

Quyết định 41/2021/HC-GĐT — Hành chính

Tòa án nhân dân tối cao Tuyên án 17/11/2021 Hành chính Giám đốc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/11/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tố tụng hành chính năm 2015;

Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 39/2021/KN-HC ngày 10/9/2021của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với Bản án hành chính phúc thẩm số 577/2019/HC-PT ngày 22/8/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện quyết định hành chính về lĩnh vực thuế"
  • Tòa quyết gì? Tố tụng hành chính năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 266 Luật Tố tụng hành chính; Điều 272 Luật Tố tụng hành chính; Điều 273 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Quyết định giám đốc thẩm
Số: 41/2021/HC-GĐT
Ngày 17/11/2021
V/v khiếu kiện quyết định hành
chính về lĩnh vực thuế

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

- Thành phần Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thuân;

Các Thẩm phán: - Ông Trần Văn Cò;

- Ông Trần Hồng Hà;

- Ông Phạm Quốc Hưng;

- Ông Nguyễn Biên Thùy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân tối cao.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Ông Nguyễn Việt Hùng - Kiểm

sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 17/11/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao đã mở phiên tòa

giám đốc thẩm xét xử vụ án hành chính về “Khiếu kiện quyết định hành chính về lĩnh vực thuế” giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ du lịch khách sạn kinh doanh nhà VT.

Địa chỉ: Số 152 HHL, phường AL, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1976; cư trú tại số 191 PXL, phường BB, quận PN, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (theo Văn bản ủy quyền ngày 08/11/2018 của Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ du lịch khách sạn kinh doanh nhà VT).

2. Người bị kiện:

2.1. Cục trưởng Cục thuế tỉnh Lâm Đồng.

Địa chỉ: Số 01 TP, phường B, thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Ông Trần P, Phó Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng là người đại diện theo ủy quyền (theo Văn bản ủy quyền ngày 04/3/2019 của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng).

2.2. Chi cục Thuế huyện BL (nay là khu vực BL1 - BL), tỉnh Lâm Đồng.

Địa chỉ: Tổ T, thị trấn LT, huyện BL, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Bà Nguyễn Thị C, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thuế huyện BL (nay là khu vực BL1 - BL) là người đại diện theo ủy quyền (theo Văn bản ủy quyền số 10/UQ-CCT ngày 07/8/2019 của Chi cục trưởng Chi cục Thuế huyện BL).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chi cục trưởng Chi cục Thuế huyện BL (nay là khu vực BL1 - BL), tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị C, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thuế huyện BL (nay là khu vực BL1

- BL), tỉnh Lâm Đồng, là người đại diện theo ủy quyền (theo Văn bản ủy quyền số 1186/UQ-CCT ngày 13/12/2018 của Chi cục trưởng Chi cục Thuế huyện BL).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngày 04/5/2011, Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ du lịch khách sạn kinh doanh nhà VT (viết tắt là Công ty VT) được Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy chứng nhận đầu tư số 42121000748 là chủ đầu tư dự án trồng cây cao su, trồng rừng, kết hợp quản lý bảo vệ rừng tại xã LB, huyện BL, tỉnh Lâm Đồng; tại khoản 2 Điều 7 Giấy chứng nhận đầu tư quy định: “Miễn tiền thuê đất trong toàn bộ thời gian thuê đất đối với diện tích trồng rừng, chăm sóc rừng (quy định tại khoản 1, điều 14, Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước); miễn tiền thuê đất trong 11 năm đối với diện tích đất thuê để sử dụng vào mục đích khác (quy định tại điểm c, khoản 4, Điều 14, Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ)”.

Ngày 26/3/2018, Công ty VT có Văn bản số 01/2018 đề nghị miễn tiền thuê đất gửi Chi cục Thuế huyện BL (nay là khu vực BL1 - BL, sau đây viết tắt là Chi cục Thuế), tỉnh Lâm Đồng. Ngày 10/4/2018, Công ty VT hoàn tất hồ sơ đề nghị miễn tiền thuê đất.

Ngày 26/7/2018, Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng ban hành Quyết định số 3643/QĐ-CT về việc miễn tiền thuê đất cho Công ty VT (viết tắt là Quyết định số 3643/QĐ-CT): Miễn tiền thuê đất cho thời gian còn lại kể từ ngày 10/4/2018 (thời điểm nộp hồ sơ) đến ngày 03/5/2061.

Ngày 23/8/2018, Chi cục Thuế ban hành Thông báo truy thu tiền thuê đất số 821/TB-CCT (viết tắt là Thông báo số 821/TB-CCT) yêu cầu Công ty VT phải nộp số tiền thuê đất truy thu từ ngày 15/6/2011 đến ngày 09/4/2018 là 1.385.895.961 đồng vào ngân sách nhà nước.

Không đồng ý với Quyết định số 3643/QĐ-CT về việc miễn tiền thuê đất và Thông báo số 821/TB-CCT, Công ty VT khiếu nại. Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Công văn số 3927/CT-KTNB ngày 15/8/2018 và Công văn số 4917/CT-KTNB ngày 15/10/2018; Chi cục Thuế ban hành Quyết định số 852/QĐ-CCT ngày 04/9/2018 không công nhận nội dung đơn khiếu nại của Công ty VT và xác định việc ban hành các Quyết định số 3643/QĐ-CT và Thông báo số 821/TB-CCT là đúng pháp luật.

Ngày 01/11/2018, Công ty VT có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng hủy Quyết định số 3643/QĐ-CT ngày 26/7/2018 của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng về việc miễn tiền thuê đất cho Công ty VT và Thông báo truy thu tiền thuê đất số 821/TB-CCT ngày 23/8/2018 của Chi cục Thuế; công nhận Công ty VT được miễn tiền thuê đất từ ngày thuê theo Giấy chứng nhận đầu tư số 42121000748 mà UBND tỉnh Lâm Đồng đã cấp.

Người đại diện của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng trình bày:

Từ ngày 23/11/2011 đến ngày 19/3/2018, Chi Cục Thuế liên tục phát hành các Thông báo, Giấy mời, Công văn hướng dẫn, yêu cầu Công ty VT bổ sung thông tin, tài liệu với nội dung yêu cầu gửi hồ sơ (Giấy chứng nhận đầu tư, Tờ khai tiền thuê đất, các giấy tờ khác có liên quan đến vấn đề thuê đất) nhưng đến ngày 10/04/2018 Chi cục Thuế mới nhận được đầy đủ hồ sơ đề nghị miễn giảm tiền thuê đất của Công ty VT. Sau đó, Chi cục Thuế có văn bản gửi Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng về việc đề nghị xem xét miễn tiền thuê đất đối với Công ty VT. Sau khi kiểm tra, thẩm định hồ sơ, Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng đã phát hành 3 lần giấy mời để giải quyết hồ sơ đề nghị miễn tiền thuê đất, Công ty đã nhận đủ nhưng không tham dự họp.

Trên cơ sở Biên bản cuộc họp liên ngành ngày 24/7/2018, xác định Giấy chứng nhận đầu tư đã cấp cho Công ty VT chỉ là một trong những thành phần hồ sơ cần phải có khi thực hiện thủ tục nộp hồ sơ miễn tiền thuê đất cho cơ quan thuế, Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng đã tiến hành ban hành Quyết định số 3643/QĐ-CT là đúng quy định của pháp luật.

Chi cục Thuế huyện BL, tỉnh Lâm Đồng trình bày: Căn cứ Biên bản cuộc họp ngày 24/7/2018 của các Sở, ngành về việc đề nghị miễn tiền thuê đất của Công ty VT và Quyết định số 3643/QĐ-CT ngày 26/7/2018 của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng, Chi cục Thuế có mời Công ty đến tham gia để làm rõ thêm nội dung trong cuộc họp trên và nội dung trong Quyết định số 3643 trên nhưng Công ty không cử người tham gia. Thực hiện Công văn số 3927/CT-KTNB ngày 15/8/2018 trả lời đơn khiếu nại Quyết định số 3643/QĐ-CT của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng (xác định khoản tiền thuê đất không được miễn trừ từ ngày 09/4/2018 về trước do Công ty nộp chậm hồ sơ theo quy định tại điểm 17, Điều 3 Nghị định số 135/2016/NĐ-CP ngày 09/6/2016 của Chính phủ) thì Công ty phải thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước khi có thông báo nộp thuế của Chi cục Thuế. Do đó, Chi cục Thuế căn cứ Thông tư số 77/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về tiền thuê đất, thuê mặt nước để ban hành Thông báo số 821/TB-CCT ngày 23/8/2018 về việc truy thu tiền thuê đất, theo đó, số thuế được miễn là 8.741.493.117 đồng (tính từ ngày 10/4/2018 đến hết ngày 03/5/2061) và tiền truy thu là 1.385.595.961 đồng (tính từ ngày 15/6/2011 đến ngày 09/4/2018).

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 08/2019/HC-ST ngày 23/4/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng quyết định:

Bác đơn khởi kiện của Công ty TNHH dịch vụ du lịch khách sạn kinh doanh nhà VT về yêu cầu sau:

- Yêu cầu hủy Quyết định số 3643/QĐ-CT ngày 26/7/2018 của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng về miễn tiền thuê đất cho Công ty TNHH dịch vụ du lịch khách sạn kinh doanh nhà VT; hủy Thông báo số 821/TB-CCT ngày 23/8/2018 của Chi cục Thuế huyện BL về truy thu tiền thuê đất;

- Yêu cầu công nhận Công ty VT được miễn tiền thuê đất theo Giấy chứng nhận đầu tư số 42121000748 do UBND tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 04/5/2011.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 06/5/2019, Công ty VT kháng cáo toàn bộ Bản án hành chính sơ thẩm nêu trên.

Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 577/2019/HC-PT ngày 22/8/2019, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Chấp nhận kháng cáo của Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ du lịch khách sạn kinh doanh nhà VT.

Sửa Bản án sơ thẩm số 08/2019/HC-ST ngày 29/9/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng về việc “Khiếu kiện quyết định miễn tiền thuê đất và Thông báo truy thu tiền thuê đất”,

Hủy Quyết định số 3643/QĐ-CT ngày 26/7/2018 của Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng về việc miễn một phần tiền thuê đất của dự án cho Công ty VT;

Hủy Thông báo số 821/TB-CCT ngày 23/8/2018 của Chi cục Thuế huyện BL về việc truy thu tiền thuê đất.

Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.

Ngày 05/8/2020 và ngày 03/8/2020, Chi cục Thuế khu vực BL1 - BL, tỉnh Lâm Đồng và Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng có Văn bản đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án hành chính phúc thẩm nêu trên.

Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 39/2021/KN-HC ngày 10/9/2021, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Bản án hành chính phúc thẩm số 577/2019/HC-PT ngày 22/8/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy Bản án hành chính phúc thẩm số 577/2019/HC-PT ngày 22/8/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 08/2019/HC-ST ngày 23/4/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại khoản 17 Điều 3 Nghị định số 135/2016/NĐ-CP ngày 09/6/2016 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước quy định:

“17. Trường hợp được Nhà nước cho thuê đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà tại Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư, Giấy phép đầu tư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp có ghi cụ thể mức ưu đãi miễn, giảm tiền thuê đất mà mức này đã được xác định đúng quy định của pháp luật về đầu tư; hoặc không ghi cụ thể mức miễn, giảm tiền thuê đất hoặc không thuộc trường hợp phải cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư, Giấy phép đầu tư nhưng thuộc đối tượng và đáp ứng đủ các điều kiện để được miễn, giảm tiền thuê đất theo quy định pháp luật tại thời điểm được Nhà nước cho thuê đất nhưng người thuê đất chậm làm thủ tục để được miễn, giảm thì nay tiếp tục được miễn, giảm tiền thuê đất theo quy định của pháp luật tại thời điểm được Nhà nước cho thuê đất, người thuê đất phải nộp hồ sơ đề nghị miễn, giảm tiền thuê đất cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục miễn, giảm tiền thuê đất trước ngày 01 tháng 01 năm 2017, quá thời hạn này người thuê đất mới nộp hồ sơ đề nghị miễn, giảm tiền thuê đất thì chỉ được xét miễn, giảm tiền thuê đất cho thời gian miễn, giảm tiền thuê đất còn lại (nếu có) tính từ thời điểm nộp hồ sơ đề nghị miễn, giảm tiền thuê đất theo quy định”.

Như vậy, trường hợp được Nhà nước cho thuê đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 thì người thuê đất phải nộp hồ sơ miễn tiền thuê đất trước ngày 01/01/2017 mới được hưởng ưu đãi về tiền thuê đất cho cả thời gian thuê, nếu quá thời hạn trên (sau ngày 01/01/2017) thì chỉ được miễn tiền thuê đất đối với thời gian còn lại kể từ thời điểm nộp hồ sơ miễn tiền thuê đất. Do ngày 10/4/2018, Công ty VT mới hoàn tất hồ sơ đề nghị miễn tiền thuê đất nên ngày 26/7/2018 Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng ban hành Quyết định số 3643/QĐ-CT chỉ miễn một phần tiền thuê đất của dự án cho Công ty VT tính từ thời điểm nộp hồ sơ là ngày 10/4/2018 và ngày 23/8/2018 Chi Cục Thuế ban hành Thông báo số 821/TB-CCT truy thu tiền thuê đất của Công ty VT từ ngày 15/6/2011 đến ngày 09/4/2018 là đúng pháp luật.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử bác yêu cầu khởi kiện của Công ty VT là có cơ sở, đúng pháp luật.

Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng việc Công ty VT không làm thủ tục kê khai theo quy định để được miễn tiền thuê đất như Giấy chứng nhận đầu tư đã ưu đãi thì chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chậm nộp hồ sơ kê khai so với thời hạn quy định. Tại khoản 1 Điều 22 Luật Quản lý thuế năm 2006 quy định thời hạn là 10 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập và hoạt động hoặc giấy chứng nhận đầu tư, doanh nghiệp phải nộp hồ sơ kê khai. Nên hành vi không làm thủ tục, hồ sơ kê khai tại cơ quan quản lý thuế của Công ty VT để được miễn tiền thuê đất thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo điểm c khoản 6 Điều 7 Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế: “Điều 7 Xử phạt đối với hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế so với thời hạn quy định…6. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: c) Không nộp hồ sơ khai thuế nhưng không phát sinh số thuế phải nộp”. Nhưng Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng theo quy định tại Điều 110 Luật Quản lý thuế sửa đổi năm 2012 thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 2 năm kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện đã hết; trong trường hợp này cơ quan thuế không được xử phạt vi phạm hành chính Công ty VT vì đã hết thời hiệu là không đúng; do vậy Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận đơn khởi kiện của Công ty VT là không đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 266, khoản 2 Điều 272 và Điều 273 Luật

Tố tụng hành chính năm 2015;

1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 39/2021/KN-HC

ngày 10/9/2021của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đối với Bản án hành chính phúc thẩm số 577/2019/HC-PT ngày 22/8/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh;

2. Hủy Bản án hành chính phúc thẩm số 577/2019/HC-PT ngày 22/8/2019

của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 08/2019/HC-ST ngày 23/4/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

Cỡ chữ