vanban.org

Quyết định 406/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Kim S.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Kim S được ly hôn với ông Lương Quốc M. Về con chung: Giao trẻ Lương Thuận Hào (nam), sinh ngày 26/7/2012; Lương Ngọc Nghi (nữ), sinh ngày 16/12/2015 cho bà Trần Kim S trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà S không yêu cầu ông Lương Quốc M cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Kim S.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 406/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 27-7-2018
V/v Tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Duyên Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Bình 2. Bà Trần Thị Thanh Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Võ Thùy Dung - Kiểm sát viên. Trong ngày 27 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 103/2018/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2018 về “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2018/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Trần Kim S, sinh năm: 1985; địa chỉ: Chung cư LLQ, Phường V, Quận XI, Thành phố H; (Có đơn xin xét xử vắng mặt) 2. Bị đơn: Ông Lương Quốc M, sinh năm: 1984; địa chỉ: Chung cư LLQ, Phường V, Quận XI, Thành phố H; (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 05/3/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – bà Trần Kim S trình bày:

Bà và ông M là vợ chồng chung sống có đăng ký kết hôn. Giấy chứng nhận kết hôn số 157/2011 ngày 01/10/2011 do Ủy ban nhân dân Phường 5, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cấp.

Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ khi bà S mang bầu trẻ Nhi, tài chính, kinh tế gia đình phụ thuộc vào ông M nên ông M có thái độ cư xử không tốt đối với bà. Mâu thuẫn càng trầm trọng hơn khi bà sinh con, ông M không chăm lo, cư xử càng tệ bạc hơn. Bà kiếm việc làm để đỡ đần kinh tế gia đình, mong hai vợ chồng hàn gắn, tuy nhiên ông M lại ghen tuông vô cớ, kiếm chuyện làm bà mất tập trung cho công việc bằng biện pháp theo dõi điện thoại cá nhân, kiểm soát cuộc sống sinh hoạt của bà. Nhận thấy tình cảm vợ chồng thật sự không còn nên bà yêu cầu Tòa án cho ly hôn với ông Lương Quốc M.

Về con chung: Có hai con chung Lương Thuận Hào (nam), sinh ngày 26/7/2012; Lương Ngọc Nghi (nữ), sinh ngày 16/12/2015. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, việc cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Lương Quốc M trình bày:

Ông và bà S tự tìm hiểu rồi tiến tới hôn nhân đúng như bà S trình bày.

Vợ chồng chung sống có 02 con chung.

Trong quá trình chung sống vợ chồng có những mâu thuẫn chủ yếu do ông M cảm thấy bà S không có nhiều thời gian chăm sóc gia đình, vợ chồng có lục đục với nhau, có những sự cãi vã giống như bà S trình bày tuy nhiên ông xác định không có cài phần mềm theo dõi. Nay bà S yêu cầu ly hôn tôi đồng ý ly hôn.

Về con chung: Ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Hào, không yêu cầu bà S cấp dưỡng nuôi con. Đồng ý giao trẻ Nhi cho bà S nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa có ý kiến như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, thông báo thụ lý vi phạm thời hạn tống đạt cho bị đơn, chậm phân công thẩm phán xem xét đơn khởi kiện. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành trình tự tố tụng đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn yêu cầu giải quyết ly hôn và con chung với bị đơn ông Lương Quốc M hiện cư trú tại Quận 11 nên quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “tranh chấp về ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11 theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng:

Bà Trần Kim S có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 03/7/2018. Phiên tòa xét xử vụ án được mở vào lúc 8 giờ ngày 03/7/2018 và 8 giờ 00 ngày 27/7/2018, ông Lương Quốc M đã được thông báo về thời gian và địa điểm xét xử vụ án nêu trên nhưng đều vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Việc kết hôn giữa bà Trần Kim S và ông Lương Quốc M trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 5, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh, đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, bà S mang thai ông M có thái độ cư xử không tốt, đến khi bà S kiếm việc làm phụ giúp kinh tế gia đình thì ông Sáu lại ghen tuông vô cớ. Nhận thấy bị áp lực tâm lý, tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà S yêu cầu ly hôn với ông M.

Theo Điều 19 Luật Hôn nhân Gia đình: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên cuộc sống giữa bà S và ông M không hạnh phúc, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại biên bản hòa giải ngày 21/5/2018, ông M cũng đồng ý ly hôn với bà S. Do đó việc bà S yêu cầu ly hôn với ông M là chính đáng, phù hợp với nguyện vọng của hai đương sự; do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn với ông M của bà S.

Về con chung: Hiện do bà S đang trực tiếp nuôi dưỡng, bà lại có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con, các trẻ lại còn nhỏ nên cần được sự chăm sóc của mẹ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà S.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà S không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí:

Bà Trần Kim S phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Xét về quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Kim S.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Kim S được ly hôn với ông Lương Quốc M.

Về con chung: Giao trẻ Lương Thuận Hào (nam), sinh ngày 26/7/2012; Lương Ngọc Nghi (nữ), sinh ngày 16/12/2015 cho bà Trần Kim S trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà S không yêu cầu ông Lương Quốc M cấp dưỡng nuôi con.

Ông Lương Quốc M được quyền thăm nom con, không ai được cản trở ông M thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

2. Về án phí:

Bà Trần Kim S phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0008502 ngày 14/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà S đã nộp đủ án phí.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ