vanban.org

Quyết định 402/2018/QĐ-PT

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 27/09/2018 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/09/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Võ Thành T, bà Tô Thị H. Giữ

y Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 20/2018/QĐST-HC ngày 19 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang Về án phí: Ông Võ Thành T, bà Tô Thị H phải chịu án phí hành chính phúc Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Võ Thanh T kiện UBND tỉnh An Giang"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Võ Thành T, bà Tô Thị H. Giữ
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Dân sự; Điều 243 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 402/2018/QĐ-PTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 9 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO (KHÁNG NGHỊ) ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Lê Thành Văn.

Các Thẩm phán:

Ông Đặng Văn Ý.

Bà Trần Thị Hòa Hiệp.

Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Nguyễn Thị Bích Phượng, Cán bộ thư ký

Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên họp: Bà Cao Thị Hạnh - Kiểm sát viên cao cấp.

NỘI DUNG:

Tại Quyết định số 21/2018/QĐST - HC ngày 19 tháng 3 năm 2018 của Tòa án

nhân dân tỉnh An Giang căn cứ điểm g khoản 1, khoản 2 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính và khoản 2 Điều 149 Bộ luật Dân sự năm 2015 để đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về “yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” của Ủy ban nhân dân huyện A, tỉnh An Giang giữa:

Người khởi kiện: Ông Võ Thành T và bà Tô Thị H.

Cùng cư trú: Tổ 11, ấp V, xã V1, huyện A, tỉnh An Giang

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Võ Văn S, sinh năm

1955 (Văn bản ủy quyền ngày 04/9/2017)

Cư trú: Số 2628,Tổ 11, ấp V, xã V1, huyện A, tỉnh An Giang

Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện A, tỉnh An Giang.

Người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân huyện A: Do ông Nguyễn Ngọc

H – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện A làm đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 12/02/2018).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Võ Văn S, sinh năm 1955.

Cư trú: Số 2628, tổ 11, ấp V, xã V1, huyện A, tỉnh An Giang.

2. Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1941;

3. Bà Nguyễn Thị S1, sinh năm 1952.

Cùng cư trú: Số 0596B, tổ 49, ấp V2, xã V1, huyện A, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền cho ông Th, bà S1 có ông Nguyễn Văn Kh, sinh

năm 1970 (Văn bản ủy quyền ngày 26/02/2018).

Địa chỉ: Số 109, ấp Q, xã Q1, huyện A, tỉnh An Giang.

Lý do của việc đình chỉ giải quyết vụ án mà Tòa án nhân dân tỉnh An Giang nêu

là: Biên bản hòa giải ngày 16/3/2012 của Tòa án nhân dân huyện A về việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn ông Nguyễn Văn Th với bị đơn ông Võ Thành T. Tại biên bản này, ông Th trình bày đất tranh chấp 763,8m2 ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trong hồ sơ do Tòa án nhân dân huyện thụ lý năm 2012 đã có giấy chưng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện cấp cho ông Th. Qua đây cho thấy từ năm 2012, ông T, bà H đã biết được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0178 QSDĐ/dL do Ủy ban nhân dân huyện A cấp ngày 27/8/1993 cho ông Nguyễn Văn Th nhưng ông T, bà H không yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong vụ án dân sự, cũng không khởi kiện vụ án hành chính. Ngày 10/9/2017, ông T, bà H mới nộp đơn khởi kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Th là đã hết thời hiệu khởi kiện.

Tại đơn kháng cáo đề ngày 30/3/2018, ông T, bà H cho rằng trong biên bản hòa

giải ngày 16/3/2012 tại Tòa án nhân dân huyện A ông Th không cho biết thông tin về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa, số vào sổ, diện tích, vị trí, ngày cấp, Tòa án không mở phiên họp công khai nên ông không biết có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong hồ sơ vụ án.

XÉT THẤY:

Xét về thời hiệu kháng cáo: Tòa án cấp sơ thẩm ra Quyết định đình chỉ giải

quyết vụ án hành chính ngày 19/3/2018, ngày 26/3/2018 ông Võ Văn S là người đại diện ủy quyền nhận được Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính. Ngày 30/3/2018, ông T, bà H làm đơn kháng cáo và nộp tạm ứng án phí theo luật định.

Các đương sự khác trong vụ án không kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân

tỉnh An Giang không có kháng nghị đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính.

Về nội dung giải quyết vụ án: Ngà 27/8/1993, ông Nguyễn Văn Th được Ủy

ban nhân dân huyện A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2012, có sự tranh chấp quyền sử dụng đất nên ông Nguyễn Văn Th liền đứng đơn khởi kiện ông Võ Văn T và bà Tô Thị H tại Tòa án nhân dân huyện A. Cấp sơ thẩm đã tiến hành hòa giải theo luật định, tại biên bản hòa giải ngày 16/3/2012 của Tòa án nhân dân huyện A, ông Th trình bày diện tích 763,8m2 đang tranh chấp ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tại biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ

(ngày 01/3/2018) tại Tòa án nhân dân An Giang, ông Võ Văn S (người đại diện theo ủy quyền của ông T, bà H) cũng xác nhận việc bà H, ông T yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Th là do trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban cấp cho ông Th có 763,8m2 đất mà ông Th tranh chấp với ông T, bà H tại Tòa án nhân dân tỉnh A.

Như vậy, có đủ căn cứ để chứng minh rằng ông Võ Văn T và bà Tô Thị H

đã biết ông Nguyễn Văn Th được Ủy ban nhân dân huyện A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2012. Trong vụ án dân sự, ông, bà cũng không yêu cầu phản tố, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban nhân dân huyện A cấp cho ông Th, hay khởi kiện vụ án hành chính theo luật định. Ngày 10/9/201, ông T, bà H mới làm đơn khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban nhân dân huyện A cấp cho ông Th là đã hết thời hiệu khởi kiện theo điểm a khỏa 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đình chỉ giải quyết vụ án với lý do đã hết thời hiệu khởi kiện là có căn cứ.

Tại phiên họp hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao cũng đề

nghị Hội đồng không chấp nhận đơn kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 20/2018/QĐST-HC ngày 19 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 243 của Luật Tố tụng hành chính,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Võ Thành T, bà Tô Thị H. Giữ

y Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 20/2018/QĐST-HC ngày 19 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang

2. Về án phí: Ông Võ Thành T, bà Tô Thị H phải chịu án phí hành chính phúc

thẩm, chuyển số tiền tạm ứng án phí (theo Biên lai thu số 0008777 ngày 28 tháng 6 năm 2018 và Biên lai thu số 0007283 ngày 12 tháng 4 năm 2018 của Cục thi hành án dân sự tỉnh An Giang) thành án phí hành chính phúc thẩm.

3. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký.

CÁC THẨM PHÁN

Cỡ chữ