vanban.org

Quyết định 40/2024/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 14/06/2024 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Khuất Văn K và chị Hà Thị H.

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của anh Khuất Văn K và chị Hà Thị H, giao 02 con chung Khuất Hải A, sinh ngày 26/10/2006 và Khuất Bảo Y, sinh ngày 16/07/2008 cho chị Hà Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Về cấp dưỡng tiền nuôi con do các b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Khuất Văn K, Hà Thị H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Khuất Văn K và chị Hà Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:40/2024/QĐST-HNGĐHải Dương, ngày 14 tháng 6 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đoàn Thị Thu Thúy

Thư ký phiên họp: Bà Phùng Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên, tham gia phiên họp.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 261/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/5/2024, về việc‘‘Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con khi ly hôn". Theo Quyết định mở phiên họp số 243/2024/QĐMPH-HNGĐ ngày 03/6/2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu:

1. Anh Khuất Văn K, sinh năm 1979 ; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn E, xã T, huyện P, thành phố Hà Nội; Địa chỉ hiện nay: P, 1 Y-dong, J-gu, J1-si, Hàn Quốc.

2. Chị Hà Thị H, sinh năm 1979; ĐKHKTT: Thôn E, xã T, huyện P, thành phố Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: Số nhà A đường N, khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

Người được anh Khuất Văn K, chị Hà Thị H ủy quyền giao, nhận văn bản: Chị Vũ Thị C, sinh năm 1990; Địa chỉ: KDC T, phường Đ, thành phố C, tỉnh Hải Dương. (Anh K, chị H đều vắng mặt tại phiên họp).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt của anh Khuất Văn K và chị Hà Thị H cùng các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện :

Về quan hệ hôn nhân: Anh Khuất Văn K và chị Hà Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, TP Hà Nội (trước là tỉnh Hà Tây) ngày 09/6/2006. Sau khi kết hôn anh chị chung sống ở Thôn E, xã T, huyện P, thành phố Hà Nội. Quá trình vợ chồng chung sống hay xẩy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống. Năm 2008 anh K sang Hàn Quốc lao động. Sau khi anh K sang Hàn Quốc, thời gian đầu vợ chồng vẫn liên lạc điện thoại nhưng sau đó do ở xa nhau vợ chồng nảy sinh nghi ngờ, thiếu sự tin tưởng dẫn đến mâu thuẫn nghiêm trọng, dần dần anh chị không còn tâm đến nhau nữa. Do đó anh chị đã thống nhất thuận tình ly hôn. Do anh K đang ở nước ngoài nên anh K đã gửi đơn, văn bản trình bày quan điểm về việc ly hôn, con chung, tài sản cho chị H để nộp cho Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Đề nghị Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn cho anh chị.

Về quan hệ con chung : Anh K, chị H có 02 con chung là Khuất Hải A, sinh ngày 26/10/2006 và Khuất Bảo Y, sinh ngày 16/07/2008. Hiện nay các con chung đang ở với chị H. Anh K, chị H thống nhất để cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng tiền nuôi con các bên tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh K, chị H đều xác định không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về lệ phí ly hôn: Chị H tự nguyện chịu cả lệ phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Do anh K đang lao động tại Hàn Quốc nên anh K ủy quyền cho chị Vũ Thị C giao và nhận văn bản tại Tòa án. Chị C đồng ý nhận ủy quyền của anh K. Sau khi nhận các văn bản tố tụng, chị C đã thông tin cho anh K biết. Anh K vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày, đồng thời đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Cháu Khuất Hải A, Khu Ấ là con chung của anh K, chị H có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ việc: Đề nghị áp dụng Điều 55, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016. Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh K và chị H. Về con chung: Giao hai con chung Khuất Hải A, sinh ngày 26/10/2006 và Khuất Bảo Y, sinh ngày 16/07/2008 cho chị Hà Thị H nuôi dưỡng. Các bên tự thỏa thuận về cấp dưỡng nuôi con. Chị H chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

Về tố tụng: Chị Hà Thị Hải đăng k tạm trú và hiện đang cư trú tại số nhà A đường N, khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Anh Khuất Văn K đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc. Anh K, chị H đều đề nghị Tòa án tỉnh Hải Dương giải quyết ly hôn, do vậy vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Tài liệu anh K gửi về Việt Nam gồm đơn xin ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn xin giải quyết vắng mặt được xác nhận của Đ tại Hàn Quốc. Do vậy, có đủ cơ sở xác định nội dung các văn bản anh K nộp tại Tòa án là đúng ý chí, nguyện vọng của anh.

Anh K, chị H đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt, nên căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt các đương sự.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Khuất Văn K và chị Hà Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, thành phố Hà Nội (trước là tỉnh Hà Tây) ngày 09/6/2006, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình vợ chồng chung sống phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Năm 2008, anh K đi lao động tại Hàn Quốc, từ đó vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nay anh K, chị H đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và cùng có đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương công nhận sự thuận tình ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn giữa anh K, chị H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh chị.

- Về con chung: Anh K, chị H có 02 con chung là Khuất Hải A, sinh ngày 26/10/2006 và Khuất Bảo Y, sinh ngày 16/07/2008. Hiện cả hai con chung đang ở với chị H. Anh K, chị H thống nhất để cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Về cấp dưỡng tiền nuôi con các bên tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết. Xét thấy, nội dung các đương sự thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên có căn cứ chấp nhận.

- Về tài sản chung, nợ chung: Anh K, chị H đều xác định không đề nghị giải quyết nên Tòa án không xem xét.

. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của chị Hà Thị H chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 55, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Khuất Văn K và chị Hà Thị H.

2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của anh Khuất Văn K và chị Hà Thị H, giao 02 con chung Khuất Hải A, sinh ngày 26/10/2006 và Khuất Bảo Y, sinh ngày 16/07/2008 cho chị Hà Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Về cấp dưỡng tiền nuôi con do các bên tự thỏa thuận. Anh Khuất Văn K được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

3. Về lệ phí: Chị Hà Thị H tự nguyện chịu cả 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ theo biên lai thu số 0000706 ngày 21 tháng 05 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương (do chị Vũ Thị C nộp thay). Chị H đã nộp đủ lệ phí.

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ