vanban.org

Quyết định 40/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Hoài T.

Về hôn nhân: cho chị Hoàng Thị Hoài T ly hôn với anh Lê Văn T1. Việc nuôi con: Giao con chung là Lê Sỹ L, sinh ngày 02 tháng 4 năm 2012 và Lê Hải Đ, sinh ngày 01 tháng 7 năm 2019 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các con chung trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "án hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Hoài T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA ĐÀN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 40/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16/8/2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Huệ và ông Phan Sỹ Hùng

- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Thị Lan

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thuỳ Linh - Kiểm sát viên

Trong ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 127/2024/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2024 về yêu cầu “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐST- HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 30/QĐST- HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Hoàng Thị Hoài T, sinh năm 1991.

Nơi ĐKHKTT: làng C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)

2. Bị đơn: anh Lê Văn T1, sinh năm 1989.

Nơi ĐKHKTT: làng C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hoàng Thị Hoài T trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Lê Văn T1 kết hôn với nhau vào ngày 13 tháng 02 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do tính tình không hợp nhau, không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, anh T1 không có trách nhiệm với gia đình, đã ly thân nhau từ đầu năm 2022 đến nay, không còn tình cảm với nhau nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn T1.

Về con chung: Chị và anh Lê Văn T1 có hai con chung là Lê Sỹ L, sinh ngày 02 tháng 4 năm 2012 và Lê Hải Đ, sinh ngày 01 tháng 7 năm 2019. Ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi hai con và không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là anh Lê Văn T1:

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh T1 biết đồng thời tống đạt các tài liệu, giấy triệu tập hợp lệ cho anh T1 nhưng anh T1 không có mặt để giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến xác minh và hành niêm yết các tài liệu, chứng cứ tại địa phương nơi anh T1 cư trú theo đúng quy định tại điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.

- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án: Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định tại điều 51, điều 236, điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật

- Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Hoài T là cho ly hôn với anh Lê Văn T1; Việc nuôi con: đề nghị hội đồng xét xử giao con chung là Lê Sỹ L, sinh ngày 02 tháng 4 năm 2012 và Lê Hải Đ, sinh ngày 01 tháng 7 năm 2019 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các con chung trưởng thành; Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T1 do chị T không yêu cầu; Về án phí: Nguyên đơn chị Hoàng Thị Hoài T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Hoàng Thị Hoài T có nơi cư trú tại làng C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn T1 là bị đơn có nơi cư trú tại làng C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Về việc xét xử vắng mặt của bị đơn: Bị đơn anh Lê Văn T1 có hộ khẩu thường trú tại làng C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho anh T1 biết đồng thời tống đạt các tài liệu, giấy triệu tập hợp lệ cho anh T1. Quá trình xác minh được cung cấp anh T1 đã biết thời gian, địa điểm đến Toà án để giải quyết vụ án nhưng anh T1 không đến và không có ý kiến gì. Toà án đã tiến hành xác minh và niêm yết các tài liệu, giấy triệu tập và các chứng cứ tại địa phương nơi anh T1 cư trú theo đúng quy định tại điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung

2.1. Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị Hoài T và anh Lê Văn T1 kết hôn với nhau vào ngày 13 tháng 02 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, anh T1 không có trách nhiệm với gia đình nên đã ly thân nhau từ đầu năm 2022 đến nay. Xét thấy tình cảm giữa chị T và anh T1 không còn, mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hoàng Thị Hoài T.

2.2. Về con chung: chị Hoàng Thị Hoài T và anh Lê Văn T1 có hai con chung là Lê Sỹ L, sinh ngày 02 tháng 4 năm 2012 và Lê Hải Đ, sinh ngày 01 tháng 7 năm 2019. Quá trình chị T và anh T1 sống ly thân thì chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung nên chị T có nguyện vọng được nuôi con. Các con chung có nguyện vọng ở với mẹ là chị Hoàng Thị Hoài T, để đảm bảo quyền lợi cho con chung, hội đồng xét xử thấy rằng cần giao con chung là Lê Sỹ L và Lê Hải Đ cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chung cho đến khi trưởng thành là phù hợp.

2.3. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T1 do chị T không yêu cầu.

2.4. Về tài sản chung, nợ chung: chị Hoàng Thị Hoài T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Nguyên đơn chị Hoàng Thị Hoài T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39; điểm b khoản 2 điều 227, điểm b khoản 1 điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 56; điều 58, điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Hoài T.

1.Về hôn nhân: cho chị Hoàng Thị Hoài T ly hôn với anh Lê Văn T1.

2.Việc nuôi con: Giao con chung là Lê Sỹ L, sinh ngày 02 tháng 4 năm 2012 và Lê Hải Đ, sinh ngày 01 tháng 7 năm 2019 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các con chung trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T1 do chị T không yêu cầu.

Anh T1 có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật thì có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng, mức cấp dưỡng nuôi con.

3.Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án chị Hoàng Thị Hoài T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp tại biên lai thu tiền số 0012350 ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn. 4. Nguyên đơn chị Hoàng Thị Hoài T có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Lê Văn T1 có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ