- Tranh chấp gì? "QD Áp dụng biện pháp xử lý hành chính"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với công dân Nguyễn Văn A, sinh năm 1979; ĐKHKTT: Xóm Phú Thịnh 1, xã Phú Thịnh, huyện Đại Từ, tỉnh TH. Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định.
- Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 106 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH TỈNH TH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 40/2023/QĐ-TA | TH, ngày 27 tháng 03 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH, TỈNH TH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Bà Nguyễn Anh Thư
Thư ký phiên họp: Bà Phan Thị Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố TH, tỉnh TH.
Ngày 27 tháng 03 năm 2023 tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TH, Tòa án nhân dân thành phố TH tiến hành phiên họp xem xét, Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cở sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp 36/QĐ-TA ngày 20/03/2023 đối với:
Họ và tên: Nguyễn Văn A, sinh năm 1979;
Nơi thường trú: Xóm Phú Thịnh, xã Phú Thịnh, huyện Đại Từ, tỉnh TH.
Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định;
Giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa:11/12; Tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Con ông Nguyễn Quảng L(đã chết); con bà Trương Thị L, sinh năm 1941; Vợ: Võ Thị Nh, sinh năm 1987, Con: Lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2009
Được giao cho Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TH quản lý từ ngày 23/02/2023 đến nay. (Có mặt tại phiên họp)
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Đồng Thị Hạnh, chức vụ:Phó trưởng phòng, Phòng Lao động thương binh và xã hội TP TH
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH: Bà Nguyễn Thị Thu Nhung - Chức danh: Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY
Theo hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn A cho thấy:
Nguyễn Văn A là người nghiện chất ma tuý, thường xuyên lang thang không có nơi cư trú ổn định. Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 23/02/2023 Nguyễn Văn A có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý tại khu vực tổ 05, phường Tân Thịnh, thành phố TH. Khoảng 14 giờ cùng ngày, tổ công tác Công an phường Tân Thịnh, thành phố TH đã đưa Nguyễn Văn A đến Trạm y tế phường Tân Thịnh tiến hành kiểm tra chất ma tuý đối với A, kết quả A dương tính với chất ma tuý loại MOP.
Quá trình làm việc A khai nhận bản thân mắc nghiện từ năm 2001 đến nay chưa bỏ được, hiện mỗi ngày A sử dụng ma tuý 1 lần, loại ma tuý sử dụng là Hêroine, hình thức sử dụng là tiêm chích trực tiếp vào cơ thể, lần sử dụng gần nhất là khoảng 08 giờ ngày 23/02/2023.
Do A là đối tượng lang thang không có nơi cư trú ổn định, Công an phường Tân Thịnh đã lập biên bản làm việc và xét nghiệm chất ma tuý đối với A. Ngày 23/02/2023 tại biên bản kiểm tra chất ma tuý trong nước tiểu của A thể hiện: A dương tính với chất ma tuý loại Heroine. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý ngày 01/03/2023, kết quả: A nghiện ma tuý nhóm Opiats( Heroine).
Tại phiếu trả lời xác minh về việc xác định nơi cư trú ngày 27/02/2023 của Công an xã Phú Thịnh, huyện Đại Từ, tỉnh TH về lý lịch xác định A đăng ký cư trú tại xóm Phú Thịnh 1, Phú Thịnh, huyện Đại Từ, tỉnh TH, A thường xuyên đi lang thang, không có nơi cư trú ổn định.
Quá trình làm việc A đã nghe thông báo, giải thích về việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo quy định tại Điều 28 Nghị định 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ, do hết thời hạn 5 ngày làm việc A không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Ngày 08/03/2023, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường Tân Thịnh lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma tuý tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma tuý và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và xác định A có hành vi vi phạm không đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện (vi phạm khoản 1, Điều 32 Luật phòng, chống ma tuý năm 2021), Uỷ ban nhân dân phường đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A. Sau khi đọc hồ sơ A nhất trí với việc lập hồ sơ và không có ý kiến gì khác.
Tại phiên họp xét, Đại diện Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố TH có ý kiến: Đề nghị xem xét áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn A, thời gian là 12 đến 15 tháng.
Người bị đề nghị có ý kiến: Bản thân nghiện ma túy đến nay chưa cai được. Quá trình lập hồ sơ A đã được biết, được đọc hồ sơ, xác định Uỷ ban phường Tân Thịnh lập hồ sơ là đúng và xác nhận thường xuyên vắng mặt tại địa phương, không có nơi cư trú ổn định và không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên nhất trí việc chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH có ý kiến: Quá trình giải quyết Tòa án đã tuân thủ theo đúng các quy định của Pháp lệnh quy địnhvề trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đề nghị Tòa án áp dụngv điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 95, khoản 1 Điều 96, 103,104, khoản 2 Điều 105, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi bổ sung năm 2020; khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy, Pháp lệnh số 09/2014 UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, giải quyết theo hướng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn A thời hạn từ 12 đến 15 tháng tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TH.
XÉT THẤY
Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được sửa đổi bổ sung năm 2020; Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Điều 9 của Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn A thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố TH.
Về thời hiệu và trình tự thủ tục: Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Phòng Lao động Thương binh xã hội thành phố TH đối với Nguyễn Văn A được lập trong thời hiệu quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính; Các Điều 40, 41, 42, 43 của Nghị định số 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021 quy định chi tiết 1 số điều của luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Điều 32 Luật phòng chống ma túy.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và trình bày của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thấy:
Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Nguyễn Văn A ngày 01/03/2023 của Trung tâm y tế thành phố TH kết luận A nghiện ma túy nhóm Opiats(Hêroine). Kết quả xác định tình trạng nghiện trên phù hợp với kết quả tại phiếu kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể ngày 23/02/2023 của Trạm y tế phường Tân Thịnh và lời trình bày của A.
Hết thời hạn 05 ngày, A không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên A bị lập biên bản vi phạm do không đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện theo quy định tại Điều 28 và Điều 33 của Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng chống ma túy.
Đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật phòng chống ma túy thấy rằng Nguyễn Văn A là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên không đăng ký cai nghiện tự nguyện do vậy đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Luật phòng chống ma túy.
Về nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị: Nguyễn Văn A là người nghiện ma tuý từ nhiều năm đến nay không cai được. Chưa có tiền án, tiền sự, A không nghề nghiệp, lang thang không có nơi cư trú ổn định.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của người bị đề nghị áp dụng: A đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi của mình, nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính và không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Phòng Lao động, thương binh và xã hội thành phố TH đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào vào cơ sở cai nghiện bắt và đề nghị áp dụng thời gian đối với Nguyễn Văn A là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 6, các Điều 95, 96, 105, 106 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2013 được sửa đổi bổ sung năm 2020; khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với công dân Nguyễn Văn A, sinh năm 1979; ĐKHKTT: Xóm Phú Thịnh 1, xã Phú Thịnh, huyện Đại Từ, tỉnh TH. Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định.
Tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TH; địa chỉ: Tổ 05, phường Thịnh Đán, thành phố TH, Tỉnh TH
2.Thời hạn chấp hành quyết định tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 12 ( Mười hai) tháng, kể từ ngày người phải chấp hành quyết định bị tạm giữ để đưa đi cơ cở cai nghiện bắt buộc( Thời gian quản lý được tính từ ngày lập hồ sơ 23/02/2023 đến thời điểm người có thẩm quyền đưa đối tượng bị áp dụng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được trừ vào thời gian cai nghiện bắt buộc).
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/02/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố TH chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố TH, tỉnh TH đưa người đi thi hành Quyết định; Cơ sở cai nghiện Đa chức năng tỉnh TH tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc./.
| Nơi nhận: - Phòng LĐTBXHTP TH; - VKSND TP TH; - Cơ sở cai nghiện Đa chức năng, tỉnh TH; - UBND, Công an P. Tân Thịnh; - UBND; Công an xã Phú Thịnh, huyện Đại Từ, tỉnh THs; - Người bị áp dụng; - Lưu HS. | THẨM PHÁN Nguyễn Anh Thư |