- Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn N kiện UBND tỉnh BRVT"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Ng.
- Căn cứ chính? Điều 243 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂNCẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 391/2019/QĐ-PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 6 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂNCẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp:
Ông Hoàng Thanh Dũng
Các Thẩm phán:
Ông Phan Thanh Tùng
Ông Nguyễn Đắc Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Hồng Đào - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 48/2018/QĐ-ST ngày 30tháng 10 năm 2018, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 143, Điều 144 của Luật tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về“Khởi kiện đối với hành vi của Uy ban nhân dân huyện X về việc cưỡng chế thu hồi 40.000m2 đất tại ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nhưng không ban hành Quyết định thu hồi đất, không đền bù, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là trái pháp luật. Buộc Ủy ban nhân dân huyện X ban hành Quyết định về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hồ trợ và tái định cư cho gia đình ông Ng do Nhà nước thu hồi đất giao cho Công ty Cao su T theo quy định của pháp luật. Buộc ủy ban nhân dân huyện X ban hành Quyết định giao đất sản xuất cho gia đình ông Ng theo tinh thần giải quyết khiếu nại của ƯBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu”, giữa:
Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn Ng, sinh năm 1966.
Địa chỉ: Thôn G, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện X.
Địa chỉ: Quốc lộ 51, thị trấn P1, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1- Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Địa chỉ: đường Ph, phường Ph1, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
2- Công ty Cổ phần Cao su T.
Địa chỉ: đường 27/4, phường Ph1, thành phố B, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
3- Công ty Cổ phần nông nghiệp H.
Địa chỉ: đường Ng, phường Đ, Quận 1, TP Hồ Chí Minh.
Tại đơn kháng cáo ngày 15 tháng 11 năm 2018, ông Nguyễn Văn Ng kháng cáo yêu cầu hủy Quyết định đình chỉ của Tòa án cấp sơ thẩm.
XÉT THẤY:
Ngày 06/05/1985Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định 548/QĐ-UBT có nội dung:
- Điều 1: Nay thành lập nông trường cao su của tỉnh, tách từ Nông trường H1 ở huyện X trực thuộc Công ty cao su Đ và lấy tên là Nông trường cao su H1 II trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Nông trường là một đơn vị trực tiếp sản xuất kinh doanh hạch toán kinh tế độc lập, có tài khoản ở Ngân hàng và được sử dụng con dấu riêng để giao dịch trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ quyền hạn được giao.
- Điều 2: Nông trường cao su H1 II có diện tích tự nhiên 6.000ha (trong đó có 2.400ha nằm trong khu vực dự kiến cho Trường bắn quốc gia phía Đông Bắc). Trong những năm đầu nông trường chỉ thực hiện trong phạm vi diện tích 3.600ha, không làm qua khu vực 2.400ha nói trên.
Ngày 03/5/1994, Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (BR-VT) ban hành Quyết định số 777/QĐ- UBT về việc thu hồi 500ha đất tại xã H, B1, huyện X mà trước kia giao cho Nông trường cao su H1 II để trồng mới cây cao su theo quy hoạch kế hoạch sử dụng đất, có nội dung: Điều 1: Nay thu hồi 500ha đất rừng hoang tại xã H, B1, huyện X do trước kia giao cho Nông trường cao su H1 II trồng cao su, và giao toàn bộ 500ha trên cho Công ty cao su T để trồng mới cây cao su theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cấp có thẩm quyền phê duyệt. (Vị trí, ranh giới đất thu hồi va giao trên theo sơ đồ đất tỷ lệ 1/50.000 do Công ty cao su T lập ngày 03/3/1994).
Ông Ng (trong số 85 hộ dân tại xã H, B1) khiếu nại cho rằng Công ty Cao su T đã thu hồi diện tích 103ha đất (trong đó có đất của các hộ dân) nằm ngoài diện tích 500ha đất theo Quyết định 777.
Ngày 23 tháng 5 năm 1995, Ủy ban nhân dân tỉnh BR-VT ban hành Quyết định số 460/QĐ-UBT (QĐ 460) về việc giải quyết đơn khiếu nại của một số hộ dân xã H, huyện X nằm trong diện tích 500ha có nội dung:
Không chấp nhận khiếu nại của các hộ dân đòi hỏi yêu sách đền bù đất, hoa màu nằm trong khu vực 500ha đất thu hồi tại xã H, huyện X, vì các hộ dân đến phá rừng, bao chiếm đất, sang nhượng trái phép đất do Nhà nước quản lý.
Buộc các hộ dân có những hành vi trên phải tự giải tỏa, di chuyển trả lại đất cho đơn vị được giao đất sử dụng.
Diện tích 500ha đất thu hồi ở xã H, huyện X là đất rừng do nhà nước quản lý, đã được quy hoạch để trồng cao su.
Ngày 01 tháng 6 năm 1995, Ủy ban nhân dân tỉnh BR-VT ban hành Quyết định số 504/QĐ-UBT về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với các hộ dân không chấp hành Quyết định số 460/QĐ-UBT ngày 23/5/1995 của UBND tỉnh BR-VT.
Ngày 12 tháng 4 năm 1996, Ủy ban nhân dân tỉnh BR-VT ban hành Quyết định số 807/QĐ-UBT về việc “giải quyết đường ranh giới đất giữa Công ty cao su T với xã H, huyện X”. Theo đó công nhận đường ranh giới giữa Công ty cao su T và xã H, huyện X trên diện tích 3.600 ha theo Quyết định 216/QĐ-UBT ngày 13/5/1994.
Ngày 20 tháng 8 năm 2001, Ủy ban nhân dân tỉnh BR-VT ban hành Quyết định số 6520/QĐ-UBT về việc “Giải quyết vụ 85 hộ dân xã H, B1 khiếu nại việc Công ty cao su T thu hồi 103ha nằm ngoài diện tích 500ha theo Quyết định số 777/QĐ-UBT ngày 03/5/1994 của UBND tỉnh BR-VT”, đã kết luận:
Diện tích thực tế giải tỏa, thu hồi tại xã H, huyện X được Công ty cao su T bàn giao đưa vào Xí nghiệp liên doanh V là 580ha (trong biên bản bàn giao 603ha), vượt so với Quyết định 777/QĐ-UBT ngày 03/5/1994 về việc thu hồi 500ha tại xã H, B1, huyện X giao cho Công ty cao su T đề trồng mới cây cao su là 80ha. Tuy nhiên diện tích 580ha này đều nằm trong diện tích 3.600hatrước đây. Ngày 06/5/1983 UBND tỉnh Đồng Nai có Quyết định số 548/QĐ-UBT giao cho Nông trường cao su H1 II quản lý, sử dụng và cũng nằm trong ranh giới đất Nông trường cao su H1 II được xác định tại Quyết định 807 ngày 12/4/1996 của UBND tỉnh BR-VT.
Việc nhân dân tự ý bao chiếm, xâm canh trên diện tích đất trước đây UBND tỉnh Đồng Nai giao cho Nông trường cao su H1 II không được cơ quan có thẩm quyền cho phép, không kê khai đăng ký, đóng thuế cho Nhà nước là sai quy định của Luật Đất đai 1988, 1993 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai (11/12/1998).
Quyết định số 460/QĐ-UB ngày 23/5/1995 của UBND tỉnh BR-VT về việc giải quyết khiếu nại của một số hộ dân xã H, huyện X về thu hồi 500ha trồng cao su là đúng với chính sách pháp luật của nhà nước.
Từ đó, đã quyết định:
Không chấp nhận việc khiếu nại của 85 hộ dân xã H, B1, huyện X (có danh sách kèm theo) về việc Công ty cao su T thu hồi 103ha (thực tế 80ha) nằm ngoài diện tích 500ha theo Quyết định 777/QĐ- UBT ngày 03/5/1994 của UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, yêu cầu trả lại phần đất thu hồi vượt, đòi bồi thường thỏa đáng về thiệt hại đất và hoa màu, tài sản có trên đất vì không đủ cơ sở xem xét giải quyết.
Việc các hộ dân tự ý xâm chiếm đất trong vườn cây cao su của Xí nghiệp cao su Belarus (nay thuộc Công ty TNHH Long Sơn) là vi phạm pháp luật.
Ngày 18 tháng 10 năm 2001, Thanh tra nhà nước (nay là Thanh tra Chính Phủ) có Văn bản số 903/TTNN-XKT về việc“báo cáo giải quyết một số vụ khiếu nại - tố cáo của công dân trên địa bàn huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu” có nội dung: “Thanh tra nhà nước nhận thấy việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đã được Thường vụ Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các ngành các cấp trong tỉnh quan tâm chỉ đạo, tố chức thực hiện giải quyết đúng phương pháp, phù hợp với chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước.
Khiếu nại của ông Ng đã được UBND tỉnh BR-VT giải quyết bằng các Quyết định có hiệu lực pháp luật trước ngày 01/6/2006 nên đã hết thời hiệu khởi kiện quy định tại Điều 2 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (sửa đổi bổ sung năm 1998), cũng không thuộc trường hợp được hồi tố quy định tại Điều 3 Nghị quyết số 56/2010/QH12 của Quốc hội.
Do vậy, đến ngày 07/02/2018 ông Ng mới có đơn khởi kiện hành vi hành chính của UBND huyện X là không còn thời hiệu khởi kiện quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2015/NQ-HĐTP ngày 15/01/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
Ông Ng cho rằng đã khiếu nại liên tục nên không tính thời hiệu là không phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 3 Nghị quyết số 56/2010/QH12 của Quốc hội và khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2015/NQ-HĐTP ngày 15/01/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
[3] Theo quy định tại khoản 3 Điều 18 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì ông Ng không phải chịu án phí.
Căn cứ vào Điều 243 của Luật tố tụng hành chính,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Ng. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 48/2018/QĐ-ST ngày 30 tháng 10 năm 2018, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
2. Ông Nguyễn Văn Ng không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm và án
phí hành chính phúc thẩm.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại TPHCM; -TAND tỉnh BRVT; -Cục THADS tỉnh BRVT; - Đương sự; - Lưu HS, VT, (HTKN). | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Hoàng Thanh Dũng |