- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 Điều 27 và Điều 32 Luật phòng, chống ma túy;
- Căn cứ chính? Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 21 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 39/QĐ-TA | Hà Nội, ngày 26 tháng 01 năm 2026. |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- HÀ NỘI
Thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thanh Phương.
2. Thư ký phiên họp: Bà Phạm Hằng Nga.
Ngày 26 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Hà Nội, Toà án đã tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 89 ngày 22/12/2025 đối với người bị đề nghị:
Họ và tên: Đỗ Đức Đ, giới tính nam, sinh năm: 1997. dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nơi thường trú: TDP C, xã G, tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú: Lang thang, không nơi ở cố định. Nghề nghiệp: Tự do. Con ông Đỗ Văn T (sinh năm 1973), con bà Cao Thị T (sinh năm 1977); Vợ là Nguyễn Lê Như A (sinh năm 2007) và 01 con là Đỗ Khánh A, sinh năm 2025; Tiền án, tiền sự: Không. Hiện đang lưu trú tại thời tại Cơ sở cai nghiện ma tuý số 1- Hà Nội từ ngày 09/01/2026. (có đơn xin vắng mặt).
Có sự tham gia của:
1. Người đề nghị: Ông Đỗ Văn M - Công an phường T, thành phố Hà Nội.
2. Đ diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Hà Nội: Ông Nguyễn Ngọc C - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 05/01/2026, Công an phường T đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát phòng chống tội phạm trên địa bàn phường T thì phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn nên đã kiểm tra hành chính đối với nam thanh niên trên. Quá trình kiểm tra nam thanh niên trên không xuất trình được giấy tờ tuỳ thân và tự nhận là người nghiện ma túy. Tổ công tác tiến hành mời nam thanh niên trên về trụ sở Công an phường T, thành phố Hà Nội để làm rõ thông tin lai lịch, xác minh nhân thân. Nam thanh niên trên tự khai nhận là Đỗ Đức Đ có đăng ký thường trú tại xóm C, xã G, tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú: Lang thang, không có nơi ở cố định. Bản thân Đỗ Đức Đ bị nghiện ma túy đá, tần suất sử dụng là 02 lần/ngày, hình thức sử dụng là hút. Bản thân Đỗ Đức Đ bị nghiện từ khoảng năm 2020 và đã rời khỏi địa phương từ lâu, đi làm công việc tự do. Lần gần đây nhất Đỗ Đức Đ sử dụng ma tuý đá vào ngày 05/01/2026. Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể Đỗ Đức Đ bằng cách thử nước tiểu tại Công an phường T lập ngày 05/01/2026 cho kết quả: “Dương tính với ma túy Methamphetamin”.
Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Cơ sở cai nghiện ma túy số 1- Hà Nội ngày 05/01/2026 cho kết quả: “Anh Đỗ Đức Đ nghiện ma túy Methamphetamine”. Từ đó, xác định anh Đỗ Đức Đ là người nghiện ma túy, Công an phường T, thành phố Hà Nội đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Đỗ Đức Đ.
Tại phiên họp,
Anh Đỗ Đức Đ xin vắng mặt tại phiên họp vì lý do sức khỏe và giữ nguyên lời trình bày tại cơ quan điều tra và cam kết chấp hành mọi quy định của Tòa án.
Đ diện Công an phường T có ý kiến: đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 2- Hà Nội căn cứ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của anh Đỗ Đức Đ, các tài liệu có trong hồ sơ và quy định của pháp luật để áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Hà Nội đối với anh Đỗ Đức Đ thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2- Hà Nội có ý kiến: Việc lập hồ sơ, đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Đỗ Đức Đ và quá trình Tòa án tiến hành các thủ tục mở phiên họp đều đảm bảo đúng trình tự theo quy định của pháp luật. Kiểm sát viên có quan điểm đồng ý áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Đỗ Đức Đ thời hạn từ 18 tháng đến 24 tháng.
XÉT THẤY:
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thành phố Hà Nội đối với anh Đỗ Đức Đ đầy đủ các tài liệu, chứng cứ và đảm bảo trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 103, Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính và đúng quy định tại khoản 2 Điều 41 và khoản 2 Điều 43 Nghị định 116/2021 ngày 21/12/2021 của Chính phủ “Quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy” và Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/03/2025 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Toà án nhân dân Tối cao.
Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm: Anh Đỗ Đức Đ đã khai nhận, bản thân có sử dụng ma túy từ khoảng năm 2024 đến nay, tần suất sử dụng là 10 ngày 01 lần, loại ma tuý sử dụng là heroin, hình thức sử dụng là hút. Từ khoảng năm 2017, Đỗ Đức Đ đã bỏ nhà đi lang thang khỏi địa chỉ nơi cư trú, ai thuê gì thì làm việc ấy để lấy tiền tiêu sài và mua ma tuý dùng cho bản thân. Lần gần đây nhất, Đỗ Đức Đ sử dụng loại ma tuý là đá vào ngày 09/12/2025. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Cơ sở cai nghiện ma túy số 1- Hà Nội ngày 17/12/2025 cho kết quả: “Anh Đỗ Đức Đ nghiện ma túy loại Methamphetamin".
Do vậy, các cơ quan chức năng lập hồ sơ và đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Đỗ Đức Đ là phù hợp với quy định tại Điều 32 Luật phòng, chống ma túy; Điều 95, Điều 96 và khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của anh Đỗ Đức Đ là trái pháp luật, là nguyên nhân gây mất trật tự trị an xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, là mầm mống của các loại tội phạm.
Đỗ Đức Đ có đủ năng lực hành vinhưng anh Đỗ Đức Đ không chịu tu dưỡng bản thân, rèn luyện, lao động, học tập. Xét thấy nếu tiếp tục để anh Đỗ Đức Đ ngoài xã hội sẽ tiếp tục con đường nghiện hút ma túy, là cơ sở phát sinh các tệ nạn xã hội và bệnh tật, ảnh hưởng trật tự xã hội.
Tại phiên họp, Đ diện công an phường T và Đ diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Hà Nội đề nghị áp dụng biện pháp đưa anh Đỗ Đức Đ vào cai nghiện bắt buộc tại trung tâm cai nghiện bắt buộc là phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy, cần thiết phải đưa anh Đỗ Đức Đ vào trung tâm cai nghiện bắt buộc để cai nghiện và tạo điều kiện cho anh Đỗ Đức Đ có cơ hội học tập, lao động trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Về tình tiết tăng nặng: Anh Đỗ Đức Đ không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình cơ quan chức năng phát hiện, lập hồ sơ về hành vi vi phạm, anh Đỗ Đức Đ đã tự nguyện khai báo, ăn năn hối cải nên cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 2 Điều 9; Điều 95, Điều 96 và khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính;
- Điểm đ khoản 1 Điều 27 và Điều 32 Luật phòng, chống ma túy;
- Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
- Điều 3, điểm k khoản 3 Điều 21, Điều 23, Điều 24, Điều 31 và Điều 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
- Điều 7, Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/03/2025 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Toà án nhân dân Tối cao.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cở sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Đỗ Đức Đ.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 22 (hai mươi hai) tháng, kể từ ngày 09/01/2026 tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1- Hà Nội.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Người bị đề nghị được quyền khiếu nại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được Quyết định; Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Công an phường T, Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 Hà Nội và anh Đỗ Đức Đ có trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
| Nơi nhận: - Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 - Công an phường T - VKSND khu vực 2- Hà Nội; - UBND phường T; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ; Vp. | THẨM PHÁN Phạm Thị Thanh Phương |