vanban.org

Quyết định 39/2022/QĐ-TA

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 11/10/2022 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Hữu Đ.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc của Hà Hữu Đ là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Hà Hữu Đ được quyền khiếu nại trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Hà Hữu Đ - cai nghiện"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Hữu Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ X

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 39/2022/QĐ-TA
X, ngày 11 tháng 10 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ X, TỈNH AN GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thùy Giang;

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Tấn Kiệt.

Ngày 11 tháng 10 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố X, tỉnh An Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 38/QĐ-TA ngày 05 tháng10 năm 2022, đối với:

Họ và tên: Hà Hữu Đ; Giới tính: Nam;

Sinh năm: 1994; Dân tộc: K; Tôn giáo: Không;

Trình độ văn hóa: 09/12;

Nghề nghiệp: Không có;

Hộ khẩu thường trú: Số 158 đường T, thị trấn C, huyện M, tỉnh An Giang;

Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định;

Tiền án: Không;

Tiền sự: 01 (Vào năm 2019, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 18 tháng do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại thành phố H, tỉnh Đồng Nai);

Con ông: Hà Văn D và bà: Nguyễn Thị Hồng G.

Người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Tô Thanh Tùng – Công chức Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố X (theo văn bản ủy quyền của Trưởng phòng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố X).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố X: Ông Kiều Văn Liêu – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Hồi 08 giờ 00 phút, ngày 16 tháng 9 năm 2022, Công an phường K mời Hà Hữu Đ (sinh năm 1994, khai nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số 158 T, thị trấn C, huyện M) nghi vấn sử dụng ma túy trái phép trên địa bàn phường K, để thử Test tìm chất ma túy, kết quả dương tính với Methamphetamine (ma túy đá). Quá trình thẩm vấn tại Công an phường K, Đ thừa nhận có sử dụng ma túy đá trái phép từ năm 2019, đã đi cai nghiện ma túy bắt buộc một lần vào năm 2019 với thời gian 18 tháng do sử dụng ma túy trái phép tại thành phố H, tỉnh Đồng Nai. Cũng trong ngày 16 tháng 9 năm 2022, ông Hà Văn Dũng (sinh năm 1958, hộ khẩu thường trú: số 158 T, thị trấn C, huyện M; hiện ngụ tại: Tổ 29, khóm B2, phường K, thànhh phố X) là cha ruột của Hà Hữu Đ, có đơn xin đưa Đ đi cai nghiện bắt buộc với thời gian 24 tháng, do Đ nghiện ma túy và thường xuyên không có mặt tại nhà. Theo Phiếu tổng hợp theo dõi để xác định tình trạng nghiện ngày 21 tháng 9 năm 2022 của Trạm Y tế phường K, kết luận Đ có nghiện Methamphetamine. Cùng ngày 21 tháng 9 năm 2022, Ủy ban nhân dân phường K ban hành Quyết định giao Đ cho cha ruột là ông Hà Văn D quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Biên bản xác minh về tình trạng cư trú của người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 04 tháng 10 năm 2022 do Công an thị trấn C xác nhận: Hà Hữu Đ có hộ khẩu thường trú tại: số 158 T, thị trấn C, huyện M, nhưng bỏ địa phương đi đâu không rõ từ năm 2019. Như vậy ở thời điểm Công an phường K mời thửa Test tìm chất ma túy thì Đ thuộc diện sống không có nơi cư trú ổn định. Ngày 26 tháng 9 năm 2022, sau khi đã hoàn tất các thủ tục pháp lý, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường K có đề nghị đưa Đ đi cai nghiện ma túy bắt buộc.

Tại phiên họp:

- Đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố X vẫn giữ nguyên đề nghị áp dụng biện pháp đưa Hà Hữu Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang với thời hạn 24 tháng.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp: (1) Việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán và Thư ký phiên họp đã thực hiện đúng quy định về trình tự, thủ tục xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị. Cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đã thực hiện đúng quy định theo Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014. Hà Hữu Đ vắng măt tại phiên họp mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản là chưa thực hiện đúng theo Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014. (2) Việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Hà Hữu Đ thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Về tình tiết giảm nhẹ: không có. Tình tiết tăng nặng: năm 2019, Đ bị đưa đi cai nghiện tại Đồng Nai thời gian 18 tháng. (3) Do đó, căn cứ các Điều 95, 96, điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính, Điều 103 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính; đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Hữu Đ, thời hạn áp dụng từ 18 đến 20 tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung phát biểu của đại diện Cơ quan đề nghị, ý kiến của người bị đề nghị và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố X, xét thấy:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố X đối với Hà Hữu Đ thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục tại các Điều 6, 96, 103 và Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho Hà Hữu Đ. Tuy nhiên tại phiên họp, Đ vẫn vắng mặt và không có đơn xin vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp vắng mặt của Đ theo khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về nhân thân: Căn cứ hồ sơ và lời khai của Hà Hữu Đ đã đủ cơ sở xác định Hà Hữu Đ có một tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Về hành vi vi phạm pháp luật: Lời khai của Hà Hữu Đ trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp phù hợp với các kết quả xét nghiệm ma túy; kết quả xác minh nơi cư trú; biên bản vi phạm hành chính. Có đủ căn cứ xác định Hà Hữu Đ là người trên 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hành chính, không có nơi cư trú ổn định, đã từng bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 16 tháng 9 năm 2022 và bị phát hiện. Do đó, cần có thời gian hỗ trợ cai nghiện để hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Vì vậy, đề nghị của Trưởng phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố X về việc đưa Hà Hữu Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) nên được chấp nhận.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm: Hà Hữu Đ đã bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng lại tiếp tục vi phạm, nên thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Hà Hữu Đ vắng mặt tại phiên họp đã thể hiện Đ không có thái độ ăn năn hối cải. Đ không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm. Đồng thời, gia đình Đ cũng có yêu cầu đưa Đ đi cai nghiện bắt buộc.

Căn cứ:

- Điều 6; điểm b khoản 1 Điều 10; các Điều 95, 96, 103, 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2020);

- Khoản 2 Điều 19, các Điều 22, 23, 30, 31 Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Hữu Đ.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc của Hà Hữu Đ là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Hà Hữu Đ được quyền khiếu nại trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết theo quy định.

Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố X có quyền kiến nghị, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố X có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội phối hợp với Công an thành phố X đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ