vanban.org

Quyết định 39/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 03/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 04/3/2022). Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HSST - Bị truy tố tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật hình sự xử phạt
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2022/HS-ST
Ngày: 03/6/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hữu và ông Bùi Bá Sơn

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Danh Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Quý - Kiểm sát viên.

Vào hồi 10 giờ 15 phút, ngày 03 tháng 6 năm 2022 tại điểm cầu Trung T Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam công an tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2022/TLST-HS ngày 20/5/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2022/QĐXXST-HS ngày 23/5/2022, đối với bị cáo:

* Họ và tên: Nguyễn Trọng T. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 24/4/1981 tại xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Nam Bắc T, xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Trọng Châu

-Sinh năm 1954. Con bà Nguyễn Thị H

- Sinh năm 1949. Bố mẹ bị cáo hiện đang sinh sống tại xã Cẩm T, huyện Cẩm X. Anh chị em ruột: Không - bị cáo là con duy nhất. Vợ: Đinh Thị TH1 - Sinh năm 1981 (hiện đã ly thân). Các con: Có 2 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2009. Tiền án: Không.

Tiền sự:

- Ngày 17/8/2021, bị Công an phường Hà Huy Tập, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000 đồng, về hành vi “Trộm cắp tài sản”; cùng ngày, Nguyễn Trọng T đã nộp đủ tiền phạt.

- Ngày 21/01/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 01/QĐ-TA “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” với thời gian 12 tháng, trong khi chưa thi hành quyết định này thì Nguyễn Trọng T phạm tội.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/3/2022, đến ngày 10/3/2022 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh).

* Người bị hại:

- Anh Trần Văn C, sinh năm 1982. Nghề nghiệp: Kinh doanh sắt thép. Trú tại: Thôn Bắc T, xã Thạch Đ, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có đơn xin xử vắng mặt.

- Anh Nguyễn Quốc V, sinh năm 1983. Nghề nghiệp: Sửa chữa ô tô. Trú tại: Thôn Bắc T, xã Thạch Đ, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có đơn xin xử vắng mặt

- Ông Định Trọng K, sinh năm 1965. Nghề nghiệp: Kinh doanh. Trú tại: Số nhà 107, đường Trần P, phường Trần P, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Có đơn xin xử vắng mặt

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1949. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trú tại: Thôn Nam Bắc T, xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh. Có đơn xin xử vắng mặt

- Chị Trương Thị H1, sinh năm 1983. Nghề nghiệp: Buôn bán hàng phế liệu. Trú tại: Thôn Na T, xã cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh. Có đơn xin xử vắng mặt

- Anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1977. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trú tại: Thôn PH1 Trứ, xã Cẩm D, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh. Có đơn xin xử vắng mặt.

- Anh Trương Quang L, sinh năm 1983. Nghề nghiệp: Sửa chữa xe máy. Trú tại: Thôn Na T, xã cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 02/3/2022, Nguyễn Trọng T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SEAWAY, biển kiểm soát 38H9 - 0454, phía sau kéo theo xe kéo tự chế với mục đích vận chuyển hàng hóa thuê cho xe khách. Khi đi qua cửa hàng kinh doanh tôn thép Thanh Khánh, tại số nhà 115, đường Trần P, thành phố H, do ông Đinh Trọng Khánh làm chủ, T nhìn thấy ở vỉa hè phía trước cửa hàng có nhiều tấm kim loại kích thước khác nhau nên đã lấy trộm 03 tấm kim loại bỏ lên xe kéo rồi đi ra đường Quốc lộ 1A (đoạn tránh thành phố H) hướng về huyện Cẩm X.

Đến 03 giờ 28 phút cùng ngày, khi di chuyển qua Gara sửa chữa xe ô tô Bình Định, do anh Nguyễn Quốc V, trú tại Thôn Bắc T, xã Thạch Đ, huyện H làm chủ, nhìn thấy Gara này không có cửa, bên trong để một số xe ô tô và có nhiều đồ đạc nhưng không có người trông coi nên T đi vào trong Gara lấy trộm một chiếc tăng-bua bằng kim loại dùng để lắp lốp xe ô tô khách và một bàn ép côn xe ô tô tải bằng kim loại rồi điều khiển xe mô tô 38H9 - 0454 kéo theo xe kéo chở những tài sản vừa lấy trộm được đi đến một đoạn đường vắng tại xã Tân Lâm H1, huyện H cất dấu.

Đến 05 giờ 26 phút ngày 02/3/2022, Nguyễn Trọng T điều khiển xe mô tô 38H9 - 0454 quay lại cửa hàng tôn thép Mạnh C ở Thôn Bắc T, xã Thạch Đ để trộm chiếc xe kéo mà T đã thấy nhìn thấy trước đó khi di chuyển qua. T sử dụng kìm để sẵn trong cốp xe mô tô cắt đứt khóa dây đang khóa ở bánh xe bên phải của xe kéo rồi điều khiển xe mô tô 38H9 - 0454 kéo chiếc xe kéo này về cất dấu ở gần cơ sở kinh doanh phế liệu do chị Trương Thị H1, trú tại Thôn Na T, xã cẩm T, huyện Cẩm X làm chủ. Sau đó, T điều khiển xe mô tô 38H9-0454 quay lại xã Tân Lâm H1, huyện H kéo chiếc xe kéo cùng các tài sản lấy trộm được đang cất dấu tại đây đi về cầu Cẩm Thạch, huyện Cẩm X chờ trời sáng để mang đi tiêu thụ. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, Nguyễn Trọng T điều khiển xe mô tô 38H9 - 0454 kéo theo chiếc xe kéo chở những tài sản trộm cắp được gồm 03 tấm kim loại, chiếc tăng-bua và bàn ép côn đến cơ sở kinh doanh phế liệu của chị Trương Thị H1 và bán cho chị H1 với giá 3.135.000 đồng. Đối với chiếc xe kéo mà T lấy trộm được tại cửa hàng tôn thép Mạnh C, T đã bán cho chị H1 với giá 1.800.000 đồng. Tổng số tiền mà T đã bán những tài sản trộm cắp được là 4.935.000 đồng, số tiền này T đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 12/KLĐG ngày 09/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H xác định:

- 01 xe kéo 02 bánh loại tự chế (thường kéo phía sau xe mô tô), có khung làm bằng kim loại, có tổng chiều dài 4,12m, rộng 80cm, đã qua sử dụng, trị giá 3.333.000 đồng.

- 01 tăng-bua bằng kim loại hình trụ tròn, dùng để lắp lốp xe ô tô khách, đường kính 46cm, chiều cao 26cm, có trọng lượng 55,5kg, đã qua sử dụng, trị giá 500.000 đồng.

- 01 bàn ép côn xe ô tô tải bằng kim loại hình trụ tròn, đường kính 45cm, chiều cao 10cm, có trọng lượng 50,2kg, đã qua sử dụng trị giá 4.000.000 đồng.

- 01 tấm kim loại hình chữ nhật, kích thước (140 x 92) cm, dày 0,5cm, có trọng lượng 80kg, đã cũ, trị giá 800.000 đồng.

- 01 tấm kim loại hình chữ nhật, kích thước (200 x 28,5) cm, dày 0,3cm, có trọng lượng 12,8kg, đã cũ, trị giá 128.000 đồng.

- 01 tấm kim loại không rõ hình, chiều dài 2,08m, nơi rộng nhất 70cm, có trọng lượng 15,1kg, đã cũ, trị giá 151.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản định giá là 8.912.000 đồng (Bằng chữ: Tám triệu, chín trăm mười hai nghìn đồng).

* Vật chứng vụ án gồm: 02 chiếc xe kéo hai bánh loại tự chế (thường kéo phía sau xe môtô); 01 tăng-bua bằng kim loại hình trụ tròn, dùng để lắp lốp xe ô tô khách đã qua sử dụng; 01 bàn ép côn xe ô tô tải bằng kim loại hình trụ tròn đã qua sử dụng; 03 tấm kim loại đã cũ; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SEAWAY biển kiểm soát 38H9 - 0454, đã qua sử dụng; 01 Giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 0032137, biển kiểm soát 38H9 - 0454, mang tên Nguyễn Đình T, sinh năm 1977, đăng ký thường trú tại xã Cẩm D, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh, do phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 12/01/2007; 01 chiếc kìm bằng kim loại, cán được bọc nhựa màu đỏ, đã cũ.

Xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại 01 chiếc xe kéo 02 bánh tự chế; 01 chiếc tăng-bua; 01 bàn ép côn xe ô tô tải và 03 tấm kim loại cho những người bị hại là ông Đinh Trọng Khánh, anh Trần Văn C, anh Nguyễn Quốc V. Trả lại 01 chiếc xe kéo 02 bánh tự chế cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thị H.

Các vật chứng còn lại gồm: 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu SEAWAY, màu đỏ, biển kiểm soát 38H9 - 0454 (kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe) và 01 chiếc kìm bằng kim loại cán được bọc nhựa màu đỏ hiện đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H.

* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại các tài sản bị mất trộm, những người bị hại ông Đinh Trọng Khánh, anh Trần Văn C, anh Nguyễn Quốc V không yêu cầu gì thêm và đều có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Trọng T.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trương Thị H1, sau khi được đại diện gia đình Nguyễn Trọng T bồi hoàn 4.935.000 đồng, đây là số tiền chị H1 đã bỏ ra để mua những tài sản do T phạm tội mà có thì chị H1 không có yêu cầu gì thêm.

Với hành vi trên, tại cáo trạng số 43/CT-VKS-TH, ngày 17 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s, khoản 1, 2 điều 51, điểm g khoản 1, Điều 52, điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tịch thu sung công quỹ chiếc xe môtô nhãn hiệu SEAWAY, màu đỏ, biển kiểm soát 38H9-0454 (kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe), tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kìm bằng kim loại cán được bọc nhựa màu đỏ. Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố và không có ý kiến tranh luận gì.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Trọng T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ 03 giờ 00 phút ngày 02/3/2022 đến 05 giờ 26 phút ngày 02/3/2022, tại Thôn Bắc T, xã Thạch Đ, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Trọng T đã lén lút lấy trộm của anh Nguyễn Quốc V một chiếc tăng-bua bằng kim loại và một bàn ép côn xe ô tô tải bằng kim loại, có tổng trị giá 4.500.000 đồng; lấy trộm của anh Trần Văn C một chiếc xe kéo 02 bánh loại tự chế (thường kéo phía sau xe mô tô), trị giá 3.333.000 đồng. Ngoài ra, T còn lấy trộm của ông Đinh Trọng Khánh ở đường Trần P, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh 03 tấm kim loại có tổng trị giá 1.079.000 đồng. Toàn bộ số tài sản T lấy trộm của những người bị hại có tổng giá trị 8.912.000 đồng. Sau khi lấy trộm được các tài sản trên, T đem bán phế liệu lấy 4.935.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát huyện H truy tố bị cáo Nguyễn Trọng T về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về các tình tiết tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên”, theo quy định tại điểm g khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng các tình tiết “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, những người bị hại đều có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo thuộc diện hộ nghèo của UBND xã Cẩm T năm 2022 nên được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, gây lo lắng trong nhân dân. Bản thân bị cáo đã bị TAND huyện Cẩm X ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng chưa thi hành và có 1 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 17/8/2021, chưa hết thời hạn được xem là không bị xử phạt hành chính nay lại tiếp tục thực hiện cùng một loại hành vi nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện trở thành người công dân tốt mà vẫn tiếp tục phạm tội, điều đó thể hiện ý thức, thái độ coi thường pháp luật. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc hơn cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung. Bên cạnh đó, khi lượng hình cũng cần xem xét thêm việc bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay đã thành khẩn khai báo trung thực về hành vi phạm tội của mình, để từ đó xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan H pháp luật. Xét thấy mức hình phạt từ 12 đến 15 tháng tù mà đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.

.Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, gia đình thuộc hộ nghèo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, các bị hại đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trương Thị H1 đã được đại diện gia đình Nguyễn Trọng T bồi hoàn 4.935.000 đồng, chị H1 không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.

. Về xử lý vật chứng:

Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã trả lại các vật chứng là 02 chiếc xe kéo 02 bánh tự chế; 01 chiếc tăng-bua; 01 bàn ép côn xe ô tô tải và 03 tấm kim loại cho các chủ sở hữu hợp pháp. Việc trả lại các vật chứng này của Cơ quan cảnh sát điều tra là đúng quy định của pháp luật, các chủ sở hữu tài sản không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX miễn xét.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu SEAWAY, biển kiểm soát 38H9-0454 kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký và 01 chiếc kìm bằng kim loại cán được bọc nhựa màu đỏ. Đây là các vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ và tiêu hủy các vật chứng không có giá trị sử dụng theo quy định.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo thuộc hộ nghèo, tại phiên tòa bị cáo xin được miễn nộp tiền án phí. Vì vậy, cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Trọng T.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các vấn đề khác: Trong vụ án này có chị Trương Thị H1, sinh năm 1983, trú tại Thôn Na T, xã cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh, là người mua các tài sản do Nguyễn Trọng T trộm cắp được mà có, với số tiền 4.935.000 đồng. Tuy nhiên, kết quả điều tra xác định khi mua những tài sản này chị H1 không biết đó là tài sản do Nguyễn Trọng T phạm tội mà có, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện H không xem xét xử lý đối với chị Trương Thị H1.

Đối với bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1949, trú tại Thôn Nam Bắc T, xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh là mẹ bị cáo Nguyễn Trọng T, đồng thời là chủ sở hữu chiếc xe kéo mà T sử dụng làm pH1 tiện đi trộm cắp tài sản. Kết quả điều tra xác định: Hàng ngày T vẫn thường sử dụng chiếc xe này để đi chở hàng thuê, nên bà H không biết được việc T sử dụng chiếc xe làm pH1 tiện đi trộm cắp tài sản. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện H không xem xét xử lý đối với bà Nguyễn Thị H.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1, Điều 52, Điều 38 BLHS; Điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a,c khoản 2 Điều 106 BLTTHS; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 331, Điều 333 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ - UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 04/3/2022).

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc kìm bằng kim loại cán được bọc nhựa màu đỏ đã qua sử dụng.

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SEAWAY, biển kiểm soát 38H9-0454 (kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký mang tên Nguyễn Đình T, sinh năm 1977, thường trú tại xã Cẩm D, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh).

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng có tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/5/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Hà Tĩnh)

3. Về án phí: Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Trọng T.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ