vanban.org

Quyết định 39/2019/QĐST-KDTM — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 13/09/2019 Kinh doanh thương mại Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH A Trụ sở: P19.4, CT1, Toà nhà V, phường T, quận G, Hà Nội Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị B1 – Giám đốc Công ty. Bị đơn: Công ty TNHH B Trụ sở: Cụm công nghiệp P, xã H, huyện T, Hà Nội Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức Q – Giám đốc Công ty Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Công ty TNHH A và Công ty TNHH B"
  • Tòa quyết gì? I. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 39/2019/QĐST-KDTMHà Nội, ngày 13 tháng 9 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu lệ phí, án phí Toà án.

Căn cứ vào Biên bản hoà giải thành ngày 05/9/2019 về việc các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 21/2019/TLST- KDTM ngày 12/7/2018.

XÉT THẤY:

Các thoả thuận của các đương sự được ghi trong Biên bản hoà giải thành về

việc giải quyết toàn bộ vụ án là tự nguyện; nội dung thoả thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

I. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH A Trụ sở: P19.4, CT1, Toà nhà V, phường T, quận G, Hà Nội Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị B1 – Giám đốc Công ty.

Bị đơn: Công ty TNHH B Trụ sở: Cụm công nghiệp P, xã H, huyện T, Hà Nội Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức Q – Giám đốc Công ty

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Đức Q, bà Đỗ Thị L. Cùng trú tại: Số 40 đường P, thị trấn T1, huyện T, Hà Nội Bà L ủy quyền cho ông Q tham gia tố tụng

- Ông Lê Văn H, bà Nguyễn Thị D. Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Anh T3. Cùng trú tại: Số 22, ngõ 221 đường X, P. X, quận M, Hà Nội

II. Sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Theo các hợp đồng mua bán số: 05.07/2011 HĐ/MB ngày 05/7/2011 và hợp đồng mua bán số 10.08/2011 HĐ/MB ngày 10/8/2011 do Công ty TNHH A ký với Công ty TNHH B thì tính đến ngày 05/9/2019, Công ty TNHH B còn nợ Công ty TNHH A số tiền là 4.500.000.000 đồng.

Các bên đã tự nguyện thoả thuận và thống nhất các nội dung như sau:

1. Về phương án trả nợ và lộ trình trả nợ:

Lần thứ nhất: Công ty B thanh toán cho Công ty A số tiền 3.000.000.000 đồng ( ba tỷ đồng) trước ngày 15/11/2019.

Lần thứ hai: Công ty B thanh toán cho Công ty A số tiền 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng) trước ngày 01/04/2020.

Kể từ ngày 02/4/2020, toàn bộ công nợ theo các hợp đồng mua bán nêu trên sẽ chấm dứt và các bên không còn quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan đến các hợp đồng mua bán nêu trên.

2. Công ty TNHH B tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu phản tố về việc đề nghị Tòa án giải quyết đối với 03 thửa đất mà Công ty TNHH B đã đối trừ công nợ cho Công ty TNHH A (do bà Nguyễn Thị B đại diện theo pháp luật) cụ thể:

Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 104, diện tích 50,576m2, tờ bản đồ số : Bản đồ qui hoạch phân ô, địa chỉ : Khu đất kinh doanh dịch vụ xã V, huyện T, Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 195866 do UBND huyện T cấp ngày 04/11/2010, đã được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện T xác nhận việc sang tên ông Nguyễn Đức Q, bà Đỗ Thị L ngày 26/5/2011

Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 173 diện tích 66,45m2 , tờ bản đồ quy hoạch phân ô, địa chỉ tại khu đất kinh doanh dịch vụ thôn V, xã B, huyện T, Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 195821 do UBND huyện T cấp ngày 04/11/2010 cho hộ ông Trần Văn O. Ngày 02/12/2010 hộ ông Trần Văn O đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất nêu trên cho ông Trần Quang L và bà Vũ Thị Hoài T4. Ngày 20/4/2011, ông L, bà T4 đã chuyển nhượng lại toàn bộ diện tích đất nêu trên cho ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị D.

Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 170, diện tích 65,25m2 , tờ bản đồ quy hoạch phân ô khu đất kinh doanh dịch vụ tại xã B, huyện T, Hà Nội theo giấy chứng nhận số BD 176020 do UBND huyện T cấp ngày 31/12/2010 cho ông Đoàn Bá P và bà Trần Thị T5. Ngày 27/12/2012 đã chuyển nhượng quyền sử dụng 65,25m2 đất nêu trên cho ông Nguyễn Đức Q.

(Các diện tích đất này đã được đăng ký sang tên cho bà Nguyễn Thị B)

3. Ông Nguyễn Đức Q, bà Đỗ Thị L, ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị D tự nguyện rút yêu cầu độc lập liên về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được sang tên cho bà Nguyễn Thị B.

4. Về án phí:

Công ty TNHH B và Công ty TNHH A thống nhất mỗi bên chịu ½ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Cụ thể: Công ty TNHH B và Công ty TNHH A mỗi bên phải chịu: 28.125.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Hoàn trả Công ty TNHH A số tiền 36.675.000 đồng (sau khi đã đối trừ 28.125.000.000 đồng) theo biên lai số 02834 ngày 24/11/2016 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, thành phố Hà Nội.

Hoàn trả Công ty TNHH B số tiền 28.605.000 đồng (sau khi đã đối trừ 28.125.000 đồng) theo biên lai số 02950 ngày 31/5/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, thành phố Hà Nội.

Hoàn trả ông Nguyễn Đức Q, bà Đỗ Thị L số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí đối với yêu cầu độc lập đã nộp theo biên lai số 6646 ngày 21/11/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, thành phố Hà Nội

Hoàn trả ông Lê Văn Hùng và bà Nguyễn Thị D (do ông Nguyễn Anh T5 đại diện theo ủy quyền) số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí đối với yêu cầu độc lập đã nộp theo biên lai số 6647 ngày 21/11/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, thành phố Hà Nội.

III. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

IV. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ