- Tranh chấp gì? án hình sự — "Doãn Đức T và các bị cáo khác - Bị truy tố tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 77/QĐ-VC2 ngày 26/8/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Căn cứ chính? Điều 388 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 382 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 389 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Quyết định số: 39/2019/HS-GĐT Ngày 04 tháng 10 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Minh Tuấn.
Các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm: ông Vũ Thanh Liêm, ông Phạm Việt Cường
- Thư ký phiên tòa: ông Phan Nguyễn Thanh Toàn - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thọ Định - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án hình sự đối với các bị cáo:
1. Doãn Đức T, sinh ngày 15/7/1982; trú tại: thôn L, xã Q1, huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: nông; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Doãn Phú Ng và bà Hà Thị D; vợ là Nguyễn Thị Mỹ N2 (đã ly hôn), có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
2. Nguyễn Văn K (tên gọi khác: K Dít), sinh ngày 04/8/1976; trú tại: thôn 8, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: nông; trình độ văn hóa: 3/12; con ông Nguyễn Văn L1 (chết) và bà Ngô Thị H1 (chết); vợ là Đặng Thị S, có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2010; tiền án: không; tiền sự: ngày 02/11/2016 bị Công an huyện Thăng Bình xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, chấp hành xong ngày 08/11/2016; nhân thân: ngày 19/9/2006 bị Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Nam xử phạt 03 tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm tại Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2006/HSST. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Ngoài ra, còn có các bị cáo Huỳnh Thị N, Giang Minh N1, Lương Thanh H2 bị xét xử về tội “Tổ chức đánh bạc”; bị cáo Phùng Văn V bị xét xử về tội “Gá bạc”; bị cáo Nguyễn Quốc H3 bị xét xử về tội “Đánh bạc”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Vào lúc 01 giờ 30 phút ngày 30/12/2016, tại nhà Phùng Văn V thuộc thôn L, xã Q1, huyện Q, tỉnh Quảng Nam, Công an huyện Q bắt quả tang Nguyễn Quốc H3, Phan Văn M, Trần Vũ T1, Ngô Văn T2, Hà Thị V1, Mai Thị T2, Nguyễn Thị H4 có hành vi đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa, thắng thua bằng tiền, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 12.650.000 đồng cùng nhiều tang vật dùng cho đánh bạc. Trong đó, H3 tham gia đánh bạc số tiền 1.000.000 đồng, T1 tham gia đánh bạc với số tiền 200.000 đồng, T2 tham gia đánh bạc số tiền 100.000 đồng, H4 tham gia đánh bạc số tiền 100.000 đồng, M tham gia đánh bạc số tiền 100.000 đồng, T2 tham gia đánh bạc số tiền 50.000 đồng, cùng nhiều người khác nhưng đã bỏ chạy.
Quá trình điều tra xác định như sau: Vào khoảng 18 giờ ngày 29/12/2016, Huỳnh Thị N gặp Doãn Đức T nhờ T thuê nhà của Phùng Văn V để tổ chức đánh bạc dưới hình thức xóc dĩa. Sau đó, T điện thoại cho V nói thuê nhà cho N để N tổ chức đánh bạc. Lúc đầu V không đồng ý vì sợ bị Công an bắt nhưng T thuyết phục nếu có gì thì T và N sẽ lo nên V đồng ý.
Sau khi T thông báo đã thuê được nhà, N điện thoại cho Giang Minh N1 nói tối nay tổ chức đánh bạc tại nhà V. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, N1 điện thoại cho Lương Thanh H2 nói dẫn những người đánh bạc vào nhà V để chơi. Sau đó, N1 và H2 ra ngã ba xã Q1 dẫn những người tham gia đánh bạc vào nhà V. Tại đây, H2 lấy lá bài tú lơ khơ cắt thành bốn con vị, lấy chén sứ, đĩa sứ và ba tấm vải trải ra làm chiếu bạc, N1 chở ghế nhựa từ nhà N đến để những người đánh bạc ngồi. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, N, H2, N1 bắt đầu tổ chức cho những người đánh bạc chơi, có khoảng 30 người tham gia đánh bạc, người tham gia đặt thấp nhất 50.000 đồng, cao nhất 3.000.000 đồng, số tiền đặt trung bình mỗi ván trên chiếu bạc là 10.000.000 đồng. Tại chiếu bạc, Nguyễn Văn K là người cầm cái, rung xóc đĩa cho người tham gia đánh bạc đặt cược. K cầm cái được 04 ván thì thua hết số tiền mang theo, K tiếp tục ngồi lại rung xóc đĩa giúp để các con bạc đánh, K rung rồi đặt xuống, những người đánh bạc tự đặt cửa, sau đó tự mở chén và chung chi tiền thắng thua với nhau. Khi đánh bạc được khoảng 30 phút thì N1 thu tiền xâu, mỗi người chơi nộp từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng, tổng số tiền N1 thu được là 1.600.000 đồng. Tất cả tiền xâu, N1 giao cho N, những người đánh bạc đến sau thì nộp tiền xâu cho N. Khi chơi đến 01 giờ 30 phút ngày 30/12/2016 thì bị Công an huyện Q bắt quả tang, N, K, N1, H2 và một số người tham gia đánh bạc khác bỏ chạy.
Quá trình điều tra, bị cáo N, N1, H2 khai nhận: Trong khoảng thời gian từ tháng 11/2016 đến trước ngày bị bắt quả tang thì N, N1 và H2 đã tổ chức đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa tại địa bàn xã Q1 được 08 lần có thu tiền xâu của các con bạc, mỗi lần thu tiền xâu được 1.000.000 đồng. Trong đó, T thuê nhà V cho N 01 lần và V được trả tiền thuê nhà 400.000 đồng. Số tiền xâu thu được, sau khi trừ các chi phí thì N cùng chia với N1 và H2.
Tại Kết luận điều tra số 15/KLĐT ngày 27/6/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đề nghị truy tố Phùng Văn V về tội “Gá bạc” và Huỳnh Thị N, Giang Minh N1, Lương Thanh H2, Doãn Đức T cùng về tội “Tổ chức đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999; truy tố Ngô Văn T2, Nguyễn Quốc H3, Mai Thị T2, Trần Vũ T1, Hà Thị V1, Phan Văn M, Nguyễn Thị H4, Nguyễn Văn K cùng về tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009).
Tại Cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 28/7/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Nam đã truy tố các bị cáo N, N1, H2, T về tội “Tổ chức đánh bạc”; bị cáo V về tội “Gá bạc” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); các bị cáo K, H3, T1, M, T2, H4, V1, T2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2018/HSST ngày 11/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Nam:
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 249; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, tuyên phạt bị cáo Doãn Đức T 12 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, phạt bổ sung số tiền 7.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên các bị cáo Huỳnh Thị N, Giang Minh N1, Lương Thanh H2 về tội “Tổ chức đánh bạc”, bị cáo Phùng Văn V về tội “Gá bạc”, các bị cáo Nguyễn Quốc H3, Phan Văn M, Trần Vũ T1, Ngô Văn T2, Hà Thị V1, Mai Thị T2, Nguyễn Thị H4 về tội “Đánh bạc”;
Trong hạn luật định, bị cáo Doãn Đức T, Nguyễn Văn K kháng cáo xin được áp dụng hình phạt tiền.
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 85/2019/HSPT ngày 22/3/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã quyết định: chấp nhận kháng cáo, tuyên phạt bị cáo Doãn Đức T số tiền 20.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Văn K số tiền 25.000.000 đồng.
Tại Quyết định kháng nghị số 77/QĐ-VC2 ngày 26/8/2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hủy phần hình phạt đối với các bị cáo Doãn Đức T, Nguyễn Văn K tại Bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2018/HSST ngày 11/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Nam về phần hình phạt đối với hai bị cáo.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Doãn Đức T và Nguyễn Văn K đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, nên có đủ cơ sở để xác định bị cáo Doãn Đức T đã thuê nhà của Phùng Văn V để Huỳnh Thị N tổ chức đánh bạc; còn bị cáo Nguyễn Văn K là người tham gia đánh bạc với hành vi rung xóc đĩa cho người tham gia đánh bạc đặt cược. Do đó, Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm xét xử bị cáo T về tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 249, bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng tội danh.
Trong vụ án này, bị cáo Doãn Đức T chỉ tham gia với vai trò thứ yếu, là người giúp sức tìm kiếm địa điểm để N tổ chức đánh bạc, tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo T 12 tháng tù là nặng so với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà T đã gây ra. Bởi lẽ, khi được N nhờ giúp thì T tìm thuê địa điểm để N tổ chức đánh bạc, không thu lợi bất chính. Xét về nhân thân, thấy rằng bị cáo T có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, trước khi phạm tội luôn chấp hành pháp luật của nhà nước, lần đầu tiên phạm tội, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năng hối cải. Mặt khác, sau khi bị xét xử, bị cáo đã hoàn toàn nhận thức được lỗi lầm của bản thân, đã cung cấp biên lai thu tiền nộp phạt với tiền 5.000.000 đồng; đơn xin cứu xét có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Q1, bị cáo có ông ngoại và ông nội là liệt sỹ, bà nội là Mẹ Việt Nam Anh Hùng; riêng bản thân bị cáo được tặng nhiều bằng khen. Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, áp dụng hình phạt tiền xử phạt bị cáo 20.000.000 đồng là thấu tình, đạt lý, đủ tác dụng răn đe giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn K là người cầm cái rung xóc đĩa cho những người tham gia đánh bạc đặt cược. Sau khi cầm cái thua hết số tiền mang theo, K tiếp tục ở lại rung xóc đĩa giúp các con bạc đặt cược. Xét nhân thân bị cáo K có 01 tiền sự về hành vi “Đánh bạc” và năm 2006 bị Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Nam xử phạt 03 tháng tù treo về tội “Đánh bạc”. Tuy nhiên bị cáo không ăn năn hối cải để trở thành công dân tốt mà tiếp tục phạm tội có cùng tính chất. Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo K, áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo là chưa nghiêm, không phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 382; khoản 1, khoản 2 Điều 388, Điều 389 và Điều 390 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 77/QĐ-VC2 ngày 26/8/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
2. Hủy Bản án hình sự phúc thẩm số 85/2019/HSPT ngày 22/3/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn K, giữ nguyên hình phạt của bị cáo K tại Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2018/HSST ngày 11/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Q.
3. Giữ nguyên về phần hình phạt đối với bị cáo Doãn Đức T tại Bản án hình sự phúc thẩm số 85/2019/HSPT ngày 22/3/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
4. Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Đà Nẵng; (02 bản, kèm hồ sơ vụ án); - TANDTC - Vụ I; - TAND tỉnh Quảng Nam; - TAND huyện Q; - VKSND tỉnh Quảng Nam; - VKSND huyện Q; - Công an huyện Q; - Chi cục THA dân sự huyện Q; - Các bị cáo (theo địa chỉ nêu trên); - Lưu: Phòng GĐKT I (03 bản), HCTP, LTHS. | TM. ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Minh Tuấn |