- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "V/v yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Ng đối với ông T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Trần Thị Ngọc.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 140 Bộ luật Dân sự; Luật Thi hành án dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 389/2020/QĐST-DS | Quận 8, ngày 29 tháng 9 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Tuyết bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Minh Tường.
Thư ký phiên họp: Bà Hồ Thị Chí Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Dương Thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2020 tại Trụ sở của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 26/2020/TLST-DS ngày 20 tháng 01 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 242/2020/QĐST-DS-MPH ngày 21 tháng 9 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Trần Thị Ng, sinh năm 1956 {sau đây gọi tắt là bà Ng (Có mặt)};
Địa chỉ thường trú: Số A đường B, Phường 4, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2.1. Bà Đinh Thị Ngọc L, sinh năm 1982 {sau đây gọi tắt là bà L (Có mặt)};
Địa chỉ thường trú: Số 769/35/13 đường Phạm Thế Hiển, Phường 4, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.2. Bà Đinh Thị Ngọc X, sinh năm 1991 {sau đây gọi tắt là bà X (Có mặt)};
Địa chỉ thường trú: Số A đường B, Phường 4, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.3. Ông Đinh Thế S, sinh năm 1993 {sau đây gọi tắt là ông T (Có mặt)};
Địa chỉ thường trú: Số A đường B, Phường 4, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo nội dung đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 24 tháng 12 năm 2019 và quá trình tố tụng giải quyết việc dân sự, người yêu cầu là bà Ng trình bày:
Ông Đinh Thế T, sinh năm 1960 (sau đây gọi tắt là ông T) có cha là ông Đinh Thế H và có mẹ là bà Tạ Thị Đ. Ông H đã chết theo Giấy chứng tử số: 41 Quyển số: 01/1985 ngày 30/12/1985 của Ủy ban nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Bà Đ đã chết theo Giấy chứng tử số: 28/KT Quyển số: 01/1988 ngày 13/7/1988 của Ủy ban nhân dân Phường 3, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh cấp.
Ông T có vợ là bà Ng; ông T và bà Ng có 03 (Ba) người con chung tên là Đinh Thị Ngọc L, sinh ngày 18/10/1982 (giới tính: Nữ) đã thành niên (đủ 18 tuổi); Đinh Thị Ngọc X, sinh ngày 06/9/1991 (giới tính: Nữ) đã thành niên (đủ 18 tuổi) và Đinh Thế S, sinh ngày 21/3/1993 (giới tính: Nam) đã thành niên (đủ 18 tuổi); ngoài ra ông T không còn người thân thích nào khác.
Vào năm 1996, ông T phát bệnh tâm thần không kiểm soát được hành vi, không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, thường xuyên bỏ nhà đi lang thang không biết đường về. Bà Ng và các con trong gia đình đã đưa ông T đến bệnh viện chữa trị nhiều lần nhưng bệnh của ông T ngày càng nặng. Bác sĩ của bệnh viện Tâm thần đã kết luận ông T bị bệnh {Bệnh tâm thần phân liệt thể không đặc hiệu (F20.9) và Tăng huyết áp vô căn nguyên phát (I10)} hiện tại không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Do ông T bị bệnh và hiện tại không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, nên bà Ng yêu cầu Tòa án tuyên bố ông T mất năng lực hành vi dân sự, cử bà Ng là người giám hộ và là người đại diện theo pháp luật cho ông T để quản lý tài sản của ông T và quản lý tài sản của gia đình và để cho thuận lợi trong việc làm các thủ tục giấy tờ có liên quan và thực hiện các nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật.
Với những lý do nêu trên, bà Ng đã làm đơn gửi đến Tòa án nhân dân Quận 8 yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” đối với ông T, căn cứ theo quy định tại Điều 22 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trong việc dân sự này bà Ng yêu cầu Tóa án nhân dân Quận 8 tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với ông T (ông T là chồng của bà Ng).
Quá trình giải quyết việc dân sự này, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà L, bà X và ông S đã có bản tự khai đồng ý và thống nhất với yêu cầu của bà Ng về việc ông T bị bệnh tâm thần không kiểm soát được hành vi, không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi và yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với ông T.
Tại phiên họp:
Bà Ng vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án tuyên bố ông T mất năng lực hành vi dân sự.
Bà Ng trình bày là tuổi của bà đã cao, sức khỏe giảm nên bà không thể làm người giám hộ và làm người đại diện theo pháp luật cho ông T để quản lý tài sản của ông T và quản lý tài sản của gia đình được nữa. Bà Ng đồng ý cử người con cả của bà với ông T là bà L thay cho bà làm người giám hộ và làm người đại diện theo pháp luật cho ông T để quản lý tài sản của ông T và quản lý tài sản chung của gia đình.
Bà L đồng ý với ý kiến của bà Ng đã trình bày tại phiên họp; bà L yêu cầu Tòa án tuyên bố ông T mất năng lực hành vi dân sự; bà L đồng ý nhận làm người giám hộ và làm người đại diện theo pháp luật cho ông T để quản lý tài sản của ông T và quản lý tài sản chung của gia đình.
Bà X đồng ý với ý kiến của bà Ng và ý kiến của bà L đã trình bày tại phiên họp; bà X yêu cầu Tòa án tuyên bố ông T mất năng lực hành vi dân sự; bà X đồng ý cử bà L làm người giám hộ và làm người đại diện theo pháp luật cho ông T để quản lý tài sản của ông T và quản lý tài sản chung của gia đình.
Ông T đồng ý với ý kiến của bà Ng, ý kiến của bà L và ý kiến của bà X đã trình bày tại phiên họp; ông T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông T mất năng lực hành vi dân sự; ông T đồng ý cử bà L làm người giám hộ và làm người đại diện theo pháp luật cho ông T để quản lý tài sản của ông T và quản lý tài sản chung của gia đình.
Bà Ng, bà L, bà X và ông T cùng yêu cầu Tòa án tuyên bố ông T mất năng lực hành vi dân sự và đã tự nguyện thỏa thuận và đồng ý cử bà L làm người giám hộ và làm người đại diện theo pháp luật cho ông T để quản lý tài sản của ông T và quản lý tài sản chung của gia đình.
Chủ tọa phiên họp đã công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự này.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến phiên họp hôm nay, Thẩm phán và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và tuân theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự khi tiến hành giải quyết việc dân sự này. Bà Ng và những người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan là bà L, bà X và ông T đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Ng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự đã đảm bảo thủ tục đúng theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 22 của Bộ luật Dân sự năm 2015, đề nghị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự đối với ông T, sinh năm 1960.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Việm kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 8 nhận định:
Về tố tụng: Quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự, quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Ông T là chồng của bà Ng; ông T bị bệnh tâm thần không kiểm soát được hành vi, không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; ông T cư trú tại Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; căn cứ khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39; Điều 376 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 22 của Bộ Luật Dân sự năm 201, Tòa án xác định đây là việc dân sự về “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”, nên bà Ng có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với ông T.
Về nội dung yêu cầu của đương sự:
Bà Ng, bà L, bà X và ông S đều xác định ông T bị bệnh tâm thần không kiểm soát được hành vi, không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Bác sĩ của bệnh viện Tâm thần đã kết luận ông T bị bệnh {Bệnh tâm thần phân liệt thể không đặc hiệu (F20.9) và Tăng huyết áp vô căn nguyên phát (I10)} hiện tại không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Tòa án nhân dân Quận 8 đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 17/2020/QĐ-TA ngày 10 tháng 9 năm 2020 gửi đến Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ Y tế để trưng cầu giám định về tình trạng sức khỏe và tâm thần của ông T.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trung cầu số: 1833/KLGĐ ngày 14 tháng 9 năm 2020 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ Y tế đã kết luận xác định:
“1.1. Về Y học: Đương sự Đinh Thế T bị Tâm thần phân liệt, thể di chứng, tiến triển từng giai đoạn với thiếu sót tăng dần (F20.51-ICD10).
1.2. Về khả năng nhân thức và điều khiển hành vi: Đương sự Đinh Thế T mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.”.
Như vậy, đã có đủ cơ sở để xác định ông T là người mất năng lực hành vi dân sự, phù hợp với quy định tại Điều 22 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Ng đối với ông T là có cơ sở xem xét để chấp nhận.
Xét yêu cầu của bà Ng về việc yêu cầu tuyên bố ông T là người mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Ng tuyên bố ông T là người mất năng lực hành vi dân sự. Đề nghị này phù hợp với nhận định của Tòa án, nên yêu của bà Ng được Tòa án chấp nhận.
Tại phiên họp, bà Ng, bà L, bà X và ông S đã tự nguyện thỏa thuận và đồng ý cử bà L là người con cả của ông T làm người giám hộ và làm người đại diện theo pháp luật cho ông T để quản lý tài sản của ông T và quản lý tài sản chung của gia đình; sự tự nguyện thỏa thuận này của các đương sự được Tòa án ghi nhận.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Ng được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định tại điểm đ khoản 1 và khoản 2 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, Điều 36, Điều 48, khoản 2 Điều 67, khoản 4 Điều 143, các Điều 149, 150, 361, 367, 369, 370, 371, 372, 376, 377 và 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 22, 46, 47, 48, 49, 51, 53, 57, 58, 59, 60, 62, 63, 134; khoản 2 Đều 136; điểm a, b khoản 4 Điều 140, 141 và 143 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 71, Điều 103 và 105 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014;
Căn cứ điểm đ khoản 1 và khoản 2 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Trần Thị Ngọc.
Tuyên bố ông Đinh Thế T, sinh năm 1960, giới tính: Nam, thường trú tại địa chỉ Số C đường D, Phường 3, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh là người mất năng lực hành vi dân sự.
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bà Trần Thị Ng, bà Đinh Thị Ngọc L, bà Đinh Thị Ngọc X và ông Đinh Thế S đã tự nguyện thỏa thuận và đồng ý cử bà Đinh Thị Ngọc L là người con cả của ông Đinh Thế T làm người giám hộ và là người đại diện theo pháp luật cho ông Đinh Thế T.
Giao dịch của ông Đinh Thế T do bà Đinh Thị Ngọc L xác lập, thực hiện.
Bà Đinh Thị Ngọc L được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người giám hộ và người đại diện theo pháp luật cho ông Đinh Thế T theo quy định của pháp luật.
2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự:
Bà Trần Thị Ng được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định tại điểm đ khoản 1 và khoản 2 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bà Trần Thị Ng được hoàn trả lại số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2019/0012854 ngày 20 tháng 01 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị :
Các đương sự là Trần Thị Ng, bà Đinh Thị Ngọc L, bà Đinh Thị Ngọc X và ông Đinh Thế S có quyền kháng cáo quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự này trong thời hạn 10 (Mười) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định (kể từ ngày 29/9/2020).
Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 có quyền kháng nghị quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự này trong thời hạn 10 (Mười) ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định (kể từ ngày 29/9/2020).
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân Quận 8; - Tòa án nhân dân Tp.Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân Tp.Hồ Chí Minh; - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8; - Lưu Văn phòng và hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lê Minh Tường |