vanban.org

Quyết định 385/2021/QĐ-PT — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 30/11/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/11/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Tạ Năng V khởi kiện Trần Thị N"
  • Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ giải; Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ giải; Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ giải
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỐ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 385/2021/QĐ-PTThành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 11 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với Hội đồng phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Huyền Vân Các Thẩm phán:

Ông Lê Thành Long

Ông Phan Đức Phương

- Thư ký phiên họp: Bà Mai Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Đỗ Phước Trung - Kiểm sát viên. Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 683/2020/QĐST-DS ngày 02 tháng 6 năm 2020, Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ vào Điều 48; điểm b, g khoản 1 Điều 192; điểm c, điểm g khoản 1 Điều 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273, Điều 478 của Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về “Tranh chấp quyền sở hữu nhà” giữa: 1. Nguyên đơn: Ông Tạ Năng V, sinh năm 1951; Địa chỉ: Số 162/26/3 đường 42, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Anh T Địa chỉ: 40A Nguyễn Văn T, Phường 15, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh 2. Bị đơn: Bà Trần Thị N (đã chết) Địa chỉ: 162/26 đường 42, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 3.1. Bà Tạ Thị M, sinh năm 1945 Địa chỉ: Số 162/26/1 đường 42, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh 3.2. Ông Tạ Quang Kh, sinh năm 1959 Địa chỉ: 1209 Valencia Dr, NE, Albuquerque, NM 87110, USA Đại diện theo ủy quyền: Bà Tạ Thị Nh, sinh năm 1956 Địa chỉ: 179/7 đường 42, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh 3.3. Bà Tạ Thị Nh, sinh năm 1956 Địa chỉ: 179/7 đường 42, phường Bình Trưng Đ, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh 3.4. Ông Tạ Trọng Th, sinh năm 1961 Địa chỉ: 11500 Golden Gate Ave, NE, NM 87108, USA Đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Thành Tr, sinh năm 1984 3.5. Bà Tạ Thị Nh, sinh năm 1947 Địa chỉ: 6615 Ross Ave, SE, Albuquerque, NM 87108, USA 3.6. Ông Tạ Đức Ch, sinh năm 1963 Địa chỉ: 2008 Cedar point Dr 1905, Arlington, TX76010, USA Đại diện theo ủy quyền: Ông Tạ Xuân C Địa chỉ: 162/26 đường 42, phường Bình Trưng Đ, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh 3.7. Ông Tạ Xuân C, sinh năm 1954 Địa chỉ: 162/26 đường 42, phường Bình Trưng Đ, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh 3.8. Ông Đặng Sỹ P, sinh năm 1978 3.9. Bà Lâm Nguyên S, sinh năm 1990 3.10. Đặng Ngọc M, sinh năm 2008 3.11. Đặng Ngọc L, sinh năm 2015 3.12. Đặng Minh L2, sinh năm 2017 3.13. Đặng Minh Q, sinh năm 2017 Đại diện theo pháp luật của S, M, L, L2, Q: Ông Đặng Sỹ Ph và bà Lâm Nguyên S. Cùng địa chỉ: 162/26/1 đường 42, phường Bình Trưng Đ, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh 3.14. Bà Phạm Thị Thiên H, sinh năm 1976 Địa chỉ: 162/26/1 đường 42, phường Bình Trưng Đ, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh 3.15. Bà Bùi Thị G, sinh năm 1946 3.16. Bà Nguyễn Kim H, sinh năm 1987 Cùng địa chỉ: 162/26/3 đường 42, phường Bình Trưng Đ, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. 3.17. Bà Lê Thị Th, sinh năm 1974 3.18. Nguyễn Trọng Anh Kh, sinh năm 2007 3.19. Nguyễn Lê Nhã Ph, sinh năm 2016 Đại diện theo pháp luật của Kh và Ph: Bà Lê Thị Th Cùng địa chỉ: 162/26/2 đường 42, phường Bình Trưng Đ, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh 3.20. Ông Trần Lê Thanh T, sinh năm 1999 Địa chỉ: 162/26/2 đường 42, phường Bình Trưng Đ, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Lý do đình chỉ vụ án là do yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa đủ điều kiện khởi kiện và nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện theo quy định tại điểm b, g khoản 1 Điều 192, điểm c, g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại đơn kháng cáo ngày 17 tháng 6 năm 2020, ông Tạ Năng V có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Anh T kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ quyết định đình chỉ với lý do cho rằng Tòa án sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của đại diện theo ủy quyền nguyên đơn, giữ nguyên quyết định đình chỉ của Tòa án cấp sơ thẩm.

XÉT THẤY:

Đơn kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Anh Tuấn nộp trong thời hạn và đúng thủ tục theo quy định của pháp luật nên hợp lệ, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. [2] Sau khi xem xét đơn kháng cáo của ông Tạ Năng V có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Anh T và xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng phúc thẩm xét thấy: Ngày 25/6/2009, nguyên đơn ông Tạ Xuân C có đơn khởi kiện đề nghị công nhận quyền sở hữu của ông đối với nhà đất tại địa chỉ 162/26 đường số 42, phường Bình Trưng Đ, Quận 2 (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh; buộc bị đơn bà Trần Thị N phải trả lại nhà đất trên cho ông. Yêu cầu khởi kiện của ông đã được Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý vụ án. Ngày 26/12/2019, Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Tạ Năng V. Sau đó, ngày 09/01/2020 nguyên đơn ông Tạ Xuân C có đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Do vậy, Tòa án ra thông báo về việc thay đổi địa vị tố tụng, nguyên đơn trở thành người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông V trở thành nguyên đơn. Tuy nhiên, theo kết quả xác minh tại thời điểm lập đơn yêu cầu độc lập ngày 12/9/2019 ông V không có mặt tại Việt Nam (ông V đã xuất cảnh vào ngày 03/9/2019 hiện chưa có thông tin nhập cảnh), đơn của ông V không được công chứng chứng thực theo quy định của pháp luật nước ngoài và hợp thức hóa lãnh sự nơi ông V cư trú do đó không hợp lệ theo quy định tại Điều 189 và Điều 478 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do vậy, Tòa án sơ thẩm trả lại đơn yêu cầu độc lập và yêu cầu phản tố của ông V và đình chỉ giải quyết vụ án vì ông V chưa đủ điều kiện khởi kiện và nguyên đơn ông C đã rút đơn khởi kiện là có căn cứ và đúng pháp luật. Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng phúc thẩm thống nhất với ý kiến quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên họp: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Tạ Năng V có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Anh T; giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 683/2020/QĐST- DS ngày 02 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. [3] Về án phí phúc thẩm: Do ông V là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự; 1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Tạ Năng V có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Anh T. 2. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 683/2020/QĐST- DS ngày 02 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. 3. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Tạ Năng V được miễn án phí. Hoàn lại cho ông Tạ Năng V số tiền nộp 300.000 đồng do ông Nguyễn Anh Tuấn đã nộp theo biên lai thu số 0091952 ngày 06 tháng 7 năm 2020 tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. 4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ