- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Lê Q
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn N gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN N DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| [ Bản án số: 3810/2023/HNGĐ-ST Ngày: 21/9/2023 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN N DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Nguyệt
Các hội thẩm N dân:
1. Ông Huỳnh Tiến Dũng
2. Bà Nguyễn Thị Lượng
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Hoàng Quân – Thư ký Tòa án N dân thành phố Thủ Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát N dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: ông Trần Đức Sơn.
Ngày 21 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Toà án N dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1157/2023/HNST ngày 15 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly Hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 5631/2023/QĐXXST -HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Lê Q, sinh năm 1984
Địa chỉ: Số A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Ông Trần Thiện N, sinh năm 1984
Địa chỉ: Số A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Trần Lê Q trình bày: Bà và ông Trần Thiện N tự nguyện kết hôn vào năm 2010 có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn. Sau khi lập gia đình ông bà sống tự lập. Cuộc sống chung của vợ chồng thường xuyên cãi vã, phát sinh mâu thuẫn nguyên N là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, từ đó cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc. Do mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn nên ông bà đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà xin được ly hôn với N.
Về con chung: Có 02 người con chung tên Trần Q A, sinh ngày 15/01/2013 và con chung tên Trần Minh Q, sinh ngày 01/11/2016. Sau khi ly hôn bà Q yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Trần Q A, sinh ngày 15/01/2013. Ông N trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Trần Minh Q, sinh ngày 01/11/2016. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Trần Thiện N mặc dù đã được Tòa án triệu tập, tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa hôm nay, bà Trần Lê Q có đơn xin vắng mặt trong quá trình xét xử vụ án. Ông Trần Thiện N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát N dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án N dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về nội dung: Bà Trần Lê Q và ông Trần Thiện N tự nguyện kết hôn và chung sống với nhau theo Giấy chứng nhận kết hôn số 58, quyển số 01, ngày 27/7/2010 do Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện T, tỉnh B cấp, do đó hôn nhân của ông bà là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.
Về yêu cầu xin ly hôn của bà Q, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bà Q cho rằng nguyên N mâu thuẫn xuất phát từ việc bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã từ đó làm cho cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc nên bà yêu cầu ly hôn. Hiện nay ông bà đã sống ly thân. Ông Trần Thiện N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến Tòa để giải quyết vụ án nhưng ông N vắng mặt không có lý do. Điều này cho thấy ông N không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình, không chú tâm đến các yêu cầu của bà Q và cũng không có ý thức tôn trọng pháp luật. Bà Q xác định tình cảm vợ chồng giữa bà và ông N không còn, mục đích hôn N hiện nay cũng không đạt được, cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc, nay bà Q xin ly hôn, vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn N gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà Q về việc xin ly hôn với ông N.
Về con chung: Căn cứ vào lời trình bày của bà Q, giấy khai sinh của người con và chứng cứ được đương sự cung cấp trong hồ sơ vụ kiện, có cơ sở xác định quá trình sống chung bà Q và ông N có 02 người con chung là Trần Q A, sinh ngày 15/01/2013 và Trần Minh Q, sinh ngày 01/11/2016. Bà Q yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Trần Q A, sinh ngày 15/01/2013. Ông N trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Trần Minh Q, sinh ngày 01/11/2016. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu nuôi con chung của bà Q, Hội đồng xét xử xét thấy đây là yêu cầu của bà Q và nguyện vọng của hai người con chung nên có cơ sở chấp nhận giao người con tên Trần Q A, sinh ngày 15/01/2013 cho bà Q trực tiếp nuôi dưỡng; Giao người con chung tên Trần Minh Q, sinh ngày 01/11/2016 cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.
Nợ chung: Không có
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, đúng quy định.
Về án phí: Căn cứ vào Luật phí và lệ phí năm 2015. Bà Q phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hôn N gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 2 Điều 21, Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 244, Khoản 2 Điều 269, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật Hôn N gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014);
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Lê Q
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Lê Q được ly hôn ông Trần Thiện N.
1.2 Về con chung: Có 02 người con chung tên Trần Q A, sinh ngày 15/01/2013 và Trần Minh Q, sinh ngày 01/11/2016.
Giao người con tên Trần Q A, sinh ngày 15/01/2013 cho bà Trần Lê Q trực tiếp nuôi dưỡng người; Giao người con chung tên Trần Minh Q, sinh ngày 01/11/2016 cho ông Trần Thiện N trực tiếp nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.
1.3 Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
1.4 Về nợ chung: Đương sự xác định không có.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Lê Q phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà Trần Lê Q đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0003332 ngày 12/5/2023 của Chi cục thi hành án Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Q đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Ông N không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Án sơ thẩm xét xử công khai các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Toà án ND TP.HCM; - VKSND TP. Thủ Đức; - Chi cục THADS TP. HCM; - Cơ quan đăng ký kết hôn; - Các bên đương sự; - Lưu hồ sơ. . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Ánh Nguyệt |