vanban.org

Quyết định 38/QĐ-TA

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 30/11/2022 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Mai N.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sơ tư vấn và cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Mai N có quy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Mai Đỉnh N"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Mai N.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 38/QĐ-TAP, ngày 30 tháng 11 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Đoàn Thị Thanh Hà.

2. Thư ký phiên họp: Bà Đặng Thị Lệ Quyên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 40/QĐ-TA ngày 23 tháng 11 năm 2022 đối với:

Họ và tên: Mai N; sinh ngày 29 tháng 12 năm 1997.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 8, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nơi ở hiện nay: không có nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: không.

Con ông Mai Th và bà Nguyễn Thị B.

Tiền án; tiền sự: không. Vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Đào Thị Mai - Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố P, tỉnh Gia Lai (theo văn bản ủy quyền số: 40/UQ-LĐTBXH ngày 29/11/2022).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai: Bà Cao Thảo Nga - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Mai N là đối tượng nghiện ma túy, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 8, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai nhưng hiện tại không có nơi cư trú nhất định. Mai N bắt đầu sử dụng ma túy từ tháng 10 năm 2019 đến nay, loại ma tuý N sử dụng là Methamphetamin (ma túy đá), hình thức sử dụng là hút. Vào tháng 3/2022 N bỏ nhà vào Thành phố Hồ Chí Minh để tìm việc làm nhưng không xin được việc, sau đó lang thang nhiều nơi, ai thuê gì làm nấy, tiền kiếm được N sử dụng để sinh hoạt và sử dụng ma tuý. Thời gian gân đây, do hết tiền nên N trở về nhà xin tiền cha mẹ nhưng cha mẹ không cho nên đã gây rối trong gia đình. Lần sử dụng gần đây nhất của N là vào lúc 20 giờ ngày 28/10/2022 tại nhà của bố mẹ N tại tổ 8, phường Đ, thành phố P, Gia Lai. Qua quá trình xác minh hành vi vi phạm của N, Công an phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai đã lập biên bản vi phạm hành chính số 41/BB-VPHC ngày 01/11/2022 đối với Mai N về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý (ma tuý đá). Qua xác định, Mai N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 8, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai nên Công an phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Mai N.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động- Thương binh và xã hội thành phố P là bà Đào Thị Mai đề nghị Tòa án nhân dân thành phố P xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đối tượng Mai N với thời hạn từ 12 tháng đến 18 tháng.

Tại phiên họp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính được đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục của Luật xử lý vi phạm hành chính và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020; Điều 41 và Điều 43 Nghị định số: 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021.

Đồng ý với đề nghị của Phòng Lao động- Thương binh và xã hội thành phố P, tỉnh Gia Lai về quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đối tượng Mai N vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 12 tháng đến 18 tháng.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Đầy đủ các tài liệu, giấy tờ theo quy định tại khoản 2 Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi bổ sung năm 2020 và khoản 2 Điều 41 Nghị định số 116/2021/NĐ- CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều của Luật phòng chống ma tuý, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện ma tuý.

Về hành vi vi phạm: Ngày 28/10/2022 Mai N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị phát hiện, Công an phường Đ lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 01/11/2022. Quá trình làm việc Mai N đều khai nhận có việc sử dụng ma túy này.

Tại phiếu xét nghiệm trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 31/10/2022 của trạm y tế phường Đ, thuộc Trung tâm y tế thành phố P, tỉnh Gia Lai xác định Mai N có nghiện ma túy thuộc nhóm MET (Methamphetamin- Ma túy đá). Phiếu trả lời này là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 6 Điều 27 Luật Phòng, chống ma túy ngày 30 tháng 3 năm 2021; khoản Điều 3 Nghị định số: 109/2021/NĐ-CP ngày 08-12-2021 của Chính phủ quy định về cơ sở y tế đủ điều kiện xác định tình trạng nghiện ma túy. Vì vậy, Tòa án có căn cứ khẳng định Mai N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Về tài liệu xác định đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Lý lịch cá nhân của đối tượng do Công an phường Đ xác nhận thể hiện: “ Mai N; sinh năm 1997 là công dân có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 8, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai ( nhà cha mẹ ruột), nhưng hiện tại không có nơi cư trú nhất định”.

Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: kể từ ngày 28/10/2022 Mai N thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy lần cuối bị phát hiện và lập biên bản về hành vi này. Đến ngày mở phiên họp vẫn còn trong thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 03 tháng theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ và điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung năm 2020.

Trưởng Công an phường Đ đã lập hồ sơ đối với đối tượng Mai N và ra thông báo số 54/TB-CAP ngày 02/11/2022 về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng theo quy định tại Điều 42 Nghị định số 116/2021/NĐ – CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ. Ngày 04/11/2022 Mai N được đọc hồ sơ.

Như vậy, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ – CP ngày 21-12-2021 của Chính phủ.

Mai N bắt đầu sử dụng ma túy từ tháng 10 năm 2019 đến nay, loại ma tuý N sử dụng là ma túy đá, hình thức sử dụng là hút. Vào tháng 3/2022 N bỏ nhà vào Thành phố Hồ Chí Minh để tìm việc làm nhưng không xin được việc, sau đó lang thang nhiều nơi, ai thuê gì làm nấy, tiền kiếm được N sử dụng để sinh hoạt và sử dụng ma tuý. Thời gian gân đây, do hết tiền nên N trở về nhà xin tiền cha mẹ nhưng cha mẹ không cho nên đã gây rối trong gia đình. Lần sử dụng gần đây nhất của N là vào lúc 20 giờ ngày 28/10/2022 tại nhà của bố mẹ N tại tổ 8, phường Đ, thành phố P, Gia Lai. Qua quá trình xác minh hành vi vi phạm của N, Công an phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai đã lập biên bản vi phạm hành chính số 41/BB-VPHC ngày 01/11/2022 đối với Mai N về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý (ma tuý đá).

Mai N có đủ nhận thức để nhận biết được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm quy định pháp luật của Nhà nước về quản lý chất ma túy, nhưng vẫn cố tình vi phạm. Hành vi của N không những gây ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân mà còn là N nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác.

Quá trình giải quyết vụ việc, đối tượng đã tự nguyện khai báo, hối lỗi, tích cực giúp đỡ cơ quan chức năng phát hiện vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung năm 2020.

Vì vậy, cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Mai N.

Căn cứ vào các Điều 7, 9, 95, 96, 103, 104, 105, 107 và 108 Luật xử lý vi phạm hành chính và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020;

Căn cứ vào các Điều 22, 23, 24, 30, 31 và 32 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20-01-2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ vào các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Mai N.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sơ tư vấn và cai nghiện ma túy tỉnh Gia Lai.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định, Mai N có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố P có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P có quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Cỡ chữ