vanban.org

Quyết định 38/QĐ-TA

TAND TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre Tuyên án 30/10/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:

Trịnh Bảo Q (Cọp), sinh ngày: 26/02/1986 tại tỉnh Bến Tre; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 309A7, khu phố B, phường P, thành phố BT, tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Số 490D1, khu phố B, Phường T, thành phố BT, tỉnh Bến Tre; Con ông Trịnh Văn T và bà Đặng Thị L. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trịnh Bảo Q"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP BẾN TRE
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 38/QĐ-TAThành phố Bến Tre, ngày 30 tháng 10 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán: Ông Lê Hoàng Út

Thư ký phiên họp: Bà Hồ Thị Yến Nhi

Ngày 30 tháng 10 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre,

tỉnh Bến Tre, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 35/QĐ-TA ngày 22 tháng 10 năm 2020 đối với:

Họ và tên: TRỊNH BẢO Q (Cọp);

Giới tính: Nam;

Sinh ngày: 26/02/1986 tại tỉnh Bến Tre;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không;

Trình độ văn hoá: 8/12;

Nguyên quán: thành phố BT, tỉnh Bến Tre;

Hộ khẩu thường trú: Số 309A7, khu phố B, phường P, thành phố BT, tỉnh Bến

Tre;

Nơi cư trú: Số 490D1, khu phố B, Phường T, thành phố BT, tỉnh Bến Tre;

Nghề nghiệp: không;

Tiền sự:

+ Tại Quyết định số 26/QĐ-XPHC ngày 09/9/2018 của Công an Phường T,

thành phố BT, tỉnh Bến Tre đã xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chưa nộp phạt);

+ Tại Quyết định số 20/QĐ-XPHC ngày 26/5/2020 của Công an Phường T,

thành phố BT, tỉnh Bến Tre đã xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác (chưa nộp phạt);

+ Tại Quyết định số 121/QĐ-UBND ngày 20/5/2020 của Ủy ban nhân dân

Phường T, thành phố BT, tỉnh Bến Tre đã áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 3 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chấp hành xong ngày 21/8/2020);

Nhân thân:

+ Ngày 03/7/2007, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P, thị xã BT (nay là

thành phố BT), tỉnh Bến Tre áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường với thời hạn 6 tháng;

+ Ngày 26/11/2008, bị Công an Phường M, thị xã BT (nay là thành phố BT),

tỉnh Bến Tre xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng có mang theo hung khí;

+ Ngày 26/11/2008, bị Công an Phường B, thị xã BT (nay là thành phố BT),

tỉnh Bến Tre xử phạt 3.000.000 đồng về hành vi đánh nhau;

+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 70/2009/HSST ngày 21/8/2009 của Tòa án

nhân dân thị xã BT (nay là thành phố BT), tỉnh Bến Tre đã xử phạt 02 năm 6 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999;

+ Tại Quyết định số 31/QĐ-XPHC ngày 17/6/2015 của Công an Phường T,

thành phố BT, tỉnh Bến Tre đã xử phạt 750.000 đồng về hành vi đánh nhau;

+ Tại Quyết định số 102/QĐ-XPHC ngày 19/6/2015 của Công an thành phố

BT, tỉnh Bến Tre đã xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác;

+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 70/2015/HSST ngày 25/12/2015 của Tòa án

nhân dân thành phố BT, tỉnh Bến Tre đã xử phạt 01 năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 257 Bộ luật Hình sự năm 1999;

+ Tại Quyết định số 103/QĐ-XPHC ngày 19/6/2015 của Công an thành phố

BT, tỉnh Bến Tre đã xử phạt 3.000.000 đồng về hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác;

+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 31/2018/HS-ST ngày 17/4/2018 của Tòa án

nhân dân thành phố BT, tỉnh Bến Tre đã xử phạt 01 năm 3 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999;

Con ông Trịnh Văn T và bà Đặng Thị L;

Vợ: Trần Thị Mỹ D, sinh năm: 1986;

Có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2015;

Anh Trịnh Bảo Q có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

- Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Hải Triều – Chuyên viên Phòng Lao

động - Thương binh và xã hội thành phố Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre: Bà Nguyễn Thị Trúc

Thanh - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Tại văn bản số 174/LĐTBXH ngày 19/10/2020 của Phòng Lao động - Thương

binh và xã hội thành phố Bến Tre cũng như tại phiên họp hôm nay, đại diện cơ quan đề nghị trình bày nội dung đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trịnh Bảo Q cụ thể như sau: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 21/9/2020, do nghi ngờ anh Trịnh Bảo Q đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an Phường T, thành phố BT, tỉnh Bến Tre phối hợp với Trạm y tế Phường T, thành phố BT, tỉnh Bến Tre mời anh Q về trụ sở để xét nghiệm chất ma túy. Kết quả anh Trịnh Bảo Q dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine.

Tại phiên họp:

Đại diện Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố Bến Tre có ý

kiến: Do anh Trịnh Bảo Q là người trên 18 tuổi, nghiện ma túy, có nơi cư trú ổn định và đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy mà vẫn còn nghiện ma túy nên các cơ quan có thẩm quyền đã lập hồ sơ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật và đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động - Thương binh và xã hội tỉnh Bến Tre đối với anh Trịnh Bảo Q với thời hạn là 15 tháng.

Anh Trịnh Bảo Q thừa nhận bản thân đã sử dụng chất ma túy và vào ngày

21/9/2020, bị lực lượng Công an mời làm việc và Trạm y tế Phường T, thành phố BT, tỉnh Bến Tre xét nghiệm kết quả dương tính với chất ma túy. Anh thống nhất với đề nghị của Phòng lao động – Thương binh và xã hội thành phố Bến Tre về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh.

Kiểm sát viên tham gia phiên họp xác định: Quá trình thụ lý hồ sơ và tại phiên

họp, những người tiến hành phiên họp đã tuân thủ và thực hiện đúng các trình tự, thủ tục theo luật định. Về nội dung: hồ sơ đã được lập đúng theo trình tự, thủ tục theo luật định, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trịnh Bảo Q theo đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ vào

kết quả tranh luận tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ và ý kiến của những người tham gia phiên họp,

XÉT THẤY:

Căn cứ biên bản sự việc, biên bản xét nghiệm chất ma túy, biên bản xác minh

tình tiết vụ việc vi phạm hành chính, biên bản vi phạm hành chính số 24 ngày 21/9/2020 của Công an Phường T, thành phố BT, tỉnh Bến Tre có chữ ký tên xác nhận của anh Trịnh Bảo Q; bản tường thuật, bản tường trình do anh Trịnh Bảo Q tự viết đã thể hiện vào ngày 20/9/2020, anh Trịnh Bảo Q đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà ở 490D1, khu phố B, Phường T, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. Loại ma túy sử dụng là Ma túy đá.

Căn cứ phiếu trả lời kết quả về việc xác định trình trạng nghiện ma túy ngày

23/9/2020 của Trạm y tế Phường T thuộc Trung tâm y tế thành phố BT, tỉnh Bến Tre thể hiện anh Trịnh Bảo Q nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine.

Căn cứ vào Quyết định số 121/QĐ-UBND ngày 20/5/2020 của Ủy ban nhân

dân Phường T, thành phố BT, tỉnh Bến Tre đã áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với anh Trịnh Bảo Q với thời hạn 3 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Với những căn cứ trên đã có đủ cơ sở kết luận: hồ sơ đề nghị áp dụng biện

pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trịnh Bảo Q đã được các cơ quan có thẩm quyền lập đúng và đầy đủ theo trình tự pháp luật quy định. Do đó, đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Bến Tre là có cơ sở.

Anh Trịnh Bảo Q là người trên 18 tuổi và biết rõ chất ma túy là chất độc hại,

việc sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý sử dụng trái phép chất ma túy để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi của anh Q đã xâm phạm đến chủ trương chính sách của Nhà nước về bài trừ tệ nạn ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn khu dân cư. Do đó, việc bắt buộc cai nghiện đối với anh Trịnh Bảo Q là cần thiết.

Xét thấy, anh Trịnh Bảo Q đã bị cơ quan có thẩm xử phạt hành chính và áp

dụng biện pháp hành chính cùng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng anh Q vẫn không từ bỏ mà tiếp tục sử dụng và nghiện chất ma túy. Đồng thời qua xem xét quá trình hoạt động của bản thân cho thấy, anh Q đã nhiều lần bị Tòa án kết án và xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác và chống người thi hành công vụ, trong đó qua các kết quả giám định pháp y tâm thần trong 02 lần phạm tội đều thể hiện anh Q bị rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng nhiều loại ma túy. Vì vậy, thể hiện tình trạng nghiện ma túy của anh Q là nặng nên cần phải có thời gian cai nghiện nhất định mới giúp anh Q từ bỏ việc sử dụng chất ma túy. Do đó, mức thời gian cai nghiện 15 tháng mà Phòng Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Bến Tre đề nghị là phù hợp nên được chấp nhận.

Từ những nhận định trên, xét thấy anh Trịnh Bảo Q là người nghiện ma túy

trên 18 tuổi, có nơi cư trú ổn định, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy mà vẫn còn nghiện ma túy nên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 95 và khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:

Trịnh Bảo Q (Cọp), sinh ngày: 26/02/1986 tại tỉnh Bến Tre; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 309A7, khu phố B, phường P, thành phố BT, tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Số 490D1, khu phố B, Phường T, thành phố BT, tỉnh Bến Tre; Con ông Trịnh Văn T và bà Đặng Thị L.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (Mười lăm) tháng,

kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Anh Trịnh Bảo Q được quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh và

xã hội thành phố Bến Tre được quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre được quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định này.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,

kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Bến Tre, Công an

thành phố Bến Tre và Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động - Thương binh và xã hội tỉnh Bến Tre có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ