vanban.org

Quyết định 38/2024/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND huyện Quốc Oai, TP. Hà Nội Tuyên án 17/04/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự ngày 13/6/2023 của bà Nguyễn Thị X.

Tuyên bố anh Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 07/4/1993; Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội cấp ngày 25/4/2021; HKTT và nơi ở: Xóm 7, thôn T, xã N, huyện Q, thành phố Hà Nội là người mất năng lực hành vi dân sự kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp lu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự ngày 13/6/2023 của bà Nguyễn Thị X.
  • Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 277 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Q
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 38/2024/QĐST-DS
Ngày: 17/4/2024
Q, ngày 17 tháng 4 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Hữu Thanh.

Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Q, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Cúc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 36/2024/ TLST-DS ngày 14/3/2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2024/QĐST-DS ngày 03/4/2024, gồm những người tham gia tố tụng sau:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1963;

- Người bị yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1993;

Đều có HKTT và nơi ở: Xóm 7, thôn T, xã N, huyện Q, thành phố Hà Nội.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1989;

HKTT và nơi ở: Xóm 7, thôn T, xã N, huyện Q, thành phố Hà Nội.

2. Chị Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1987;

HKTT và nơi ở: Thôn K, xã C, huyện T, thành phố Hà Nội. Bà X có mặt. Anh L và chị L có đơn xin vắng mặt tại phiên họp.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Trong đơn yêu cầu ngày 13/6/2023 và trong quá trình giải quyết Việc dân sự bà Nguyễn Thị X trình bày:

Tôi là mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn Đ. Gia đình tôi không có ai mắc bệnh tâm thần. Từ khi tôi sinh anh Đ, tôi phát hiện con tôi thể chất không bình thường, từ nhỏ đã có biểu hiện phát triển chậm, 03 tuổi mới biết đi và đến 05 tuổi mới biết nói. Đến 07 tuổi do gia đình thấy anh Đ có biểu hiện bất thường nên đã cho đi khám tại Bệnh viện Nhi Trung Ương thì phát hiện anh Đ bị bệnh bẩm sinh và mất 01 quả thận. Năm lên 10 tuổi anh Đ hay đi lang thang, thần kinh không tỉnh táo, thường X bị lạc không nhớ đường về. Thời gian gần đây, anh Đ thường có biểu hiện tâm lý không bình thường giống bị trầm cảm, không nói năng được, ăn uống bất thường, thường bị hoảng loạn, không nhận biết được người thân, không làm chủ được hành vi của mình. Từ nhỏ đến nay anh Đ không đi học được, không làm được việc gì, mọi ăn uống sinh hoạt cá nhân hàng ngày đều do gia đình tôi chăm sóc. Từ giữa năm 2023 chồng tôi là Nguyễn Văn Quyền, sinh năm 1952 phát hiện bị bệnh hiểm nghèo phải nhập viện điều trị nhưng sau đó không qua khỏi. Cuối năm 2023 chồng tôi mất nên hiện nay chỉ mình tôi chăm lo cho anh Đ.

Do kinh tế khó khăn nên gia đình tôi muốn bán đất của gia đình để lấy tiền chăm lo cuộc sống gia đình nhưng nguồn gốc đất là của chồng tôi Nguyễn Văn Quyền, sinh năm 1952; đến năm 2023 do bị bệnh nên ông Quyền đã qua đời. Vì vậy giờ gia đình tôi muốn bán thửa đất trên thì phải có chữ ký của anh Đ (là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Quyền). Tuy nhiên anh Đ bị bệnh tâm thần, ngày 16/10/2013 UBND xã N đã cấp Giấy xác nhận khuyết tật cho con tôi thuộc dạng khuyết tật trí tuệ, thần kinh mức độ nặng nên khi gia đình tôi thực hiện giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì được cán bộ tư pháp xã hướng dẫn tôi làm đơn lên Tòa án nhân dân huyện Q tuyên bố anh Đ bị mất năng lực hành vi dân sự và xác định tôi là người giám hộ cho anh Đ thì tôi mới có thể bán đất cho người khác được.

Theo hướng dẫn của Tòa án, tôi đã làm đơn đề nghị trưng cầu giám định pháp y tâm thần. Ngày 11/12/2023 Tòa án nhân dân huyện Q đã ra Quyết định Trưng cầu giám định số 08/2023/QĐ-TCGĐ yêu cầu Viện Pháp y tâm thần Trung Ương giám định con tôi là Nguyễn Văn Đ có mất năng lực hành vi dân sự hay không? Đến ngày 27/3/2023 Viện pháp y Tâm thần Trung ương có kết luận giám định sức khỏe tâm thần theo trưng cầu số 69/KLGĐ, kết luận: “Tại thời điểm giám định đối tượng Nguyễn Văn Đ bị bệnh chậm phát triển tâm thần nặng. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F72. Đối tượng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.

Do con tôi không còn minh mẫn, không thể nhận thức và làm chủ hành vi của mình, không đủ khả năng và điều kiện xác lập các giao dịch dân sự nên tôi đề nghị Tòa án nhân dân huyện Q giải quyết các yêu cầu sau:

1. Tuyên bố anh Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 07/4/1993; Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxxdo Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội cấp ngày 25/4/2021; HKTT và nơi ở: Xóm 7, thôn T, xã N, huyện Q, thành phố Hà Nội mất năng lực hành vi dân sự.

2. Xác định tôi là người giám hộ đương nhiên cho anh Đ trong tất cả các giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật.

3. Xác định anh Nguyễn Văn L (anh trai ruột của anh Đ) là người giám sát việc giám hộ.

* Theo bản tự khai ngày 12/4/2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Nguyễn Thị Kim L và Nguyễn Văn L cùng trình bày:

Thống nhất với trình bày của bà X và cùng yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Văn Đ bị mất năng lực hành vi dân sự và công nhận bà Nguyễn Thị X là người giám hộ cho anh Đ; anh Nguyễn Văn L là người giám sát việc giám hộ của bà X đối với anh Đ.

* Tại phiên họp,

- Người yêu cầu bà Nguyễn Thị X giữ nguyên yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Văn Đ mất năng lực hành vi dân sự và xác định bà X là người giám hộ đối với anh Đ, anh L là người giám sát việc giám hộ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin vắng mặt tại phiên họp và giữ nguyên yêu cầu giống với yêu cầu của bà X.

- Đại diện Viện kiểm sát công bố bài phát biểu:

Về tuân thủ pháp luật tố tụng: Thẩm phán và thư ký từ khi thụ lý việc dân sự đến thời điểm mở phiên họp đã tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự và đương sự tuân thủ pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên họp thẩm phán và thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào Kết luận giám định pháp y tâm thần số 69/KLGĐ ngày 27/3/2024 của Viện Pháp Y tâm thần Trung ương thì yêu cầu của bà X là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật.

Căn cứ Điều 22, 57, 58, 59 Bộ luật dân sự, Điều 374, 376, Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị X về việc yêu cầu tuyên bố anh Nguyễn Văn Đ là người mất năng lực hành vi dân sự; Xác định bà X là người giám hộ đối với anh Đ và anh Nguyễn Văn L là người giám sát việc giám hộ của bà X đối với anh Đ.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà X không phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và Đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Q nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ Giấy khai sinh số 28/1993 do Ủy ban nhân dân xã N, huyện Q, tỉnh Hà Tây cấp ngày 07/4/1993 thì bà Nguyễn Thị X là mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn Đ. Vì vậy, bà X có quyền làm đơn yêu cầu tuyên bố anh Đ mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 376 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Theo đơn yêu cầu của bà X, Tòa án xác định đây là việc dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự.

Do anh Nguyễn Văn Đ có địa chỉ cư trú tại xóm 7, thôn T, xã N, huyện Q, thành phố Hà Nội nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Q thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.

Về sự vắng mặt của đương sự:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ việc là chị Nguyễn Thị Kim L và Nguyễn Văn L có đơn xin vắng mặt tại phiên họp nên căn cứ Khoản 1 Điều 277 và Khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt các đương sự trên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nội dung việc dân sự:

Đối với yêu cầu tuyên bố anh Nguyễn Văn Đ mất năng lực hành vi dân sự:

Căn cứ vào Kết luận giám định sức khỏe tâm thần theo trưng cầu số 69/KLGĐ ngày 27/3/2024 của Viện pháp y Tâm thần Trung ương đối với anh Nguyễn Văn Đ xác định: “Tại thời điểm giám định đối tượng Nguyễn Văn Đ bị bệnh chậm phát triển tâm thần nặng. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F72. Đối tượng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.

Căn cứ Khoản 1 Điều 22 Bộ luật dân sự quy định: Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.

Như vậy căn cứ vào quy định của pháp luật và kết luận giám định của Viện pháp y Tâm thần Trung ương, Tòa án có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị X về việc tuyên bố anh Nguyễn Văn Đ mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 376, Điều 378, Điều 379 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Đối với yêu cầu cử người giám hộ:

Căn cứ lời trình bày của các đương sự, biên bản họp gia đình ngày 09/4/2024 và các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình giải quyết vụ việc cũng như tại phiên họp thì thấy:

Anh Đ là người trên 18 tuổi bị mất năng lực hành vi dân sự, chưa có vợ con. Bố đẻ anh Đ đã chết. Bà X là mẹ đẻ của anh Đ đồng thời là người yêu cầu Tòa án xác định bà là người giám hộ cho anh Đ trong các giao dịch dân sự theo quy định pháp luật. Còn những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ việc đều thống nhất cử bà X là người giám hộ cho anh Đ.

Theo khoản 3 Điều 53 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:“Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ”.

Như vậy, bà X là người có đủ điều kiện để là người giám hộ đương nhiên cho anh Đ theo quy định tại Khoản 3 Điều 53 Bộ luật dân sự và bà X được thực hiện quyền giám hộ theo Điều 58, 59 Bộ luật dân sự nên Tòa án chấp nhận yêu cầu là người giám hộ cho anh Đ của bà X.

Đối với việc cử người giám sát việc giám hộ:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 51 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về giám sát việc giám hộ thì:“Người giám sát việc giám hộ phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nếu là cá nhân, có điều kiện cần thiết để thực hiện việc giám sát.”

Xét thấy anh L là người có đủ năng lực hành vi dân sự, có đủ điều kiện cần thiết để thực hiện việc giám sát. Anh L là anh trai của anh Đ, gia đình cũng đã họp và thống nhất để anh L là người giám hộ cho anh Đ theo biên bản họp gia đình ngày 09/4/2024 nên việc cử anh L là người giám sát giám hộ sẽ bảo vệ quyền lợi của các bên là có căn cứ, phù hợp với thỏa thuận của các bên và quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Từ phân tích trên xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp là có căn cứ nên chấp nhận.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà X không phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, các Điều 367 - 372, Điều Điều 374, 376 - 378 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 22, Điều 46 - 49, 51, 53, 57, 58, 59, 136 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự ngày 13/6/2023 của bà Nguyễn Thị X.

- Tuyên bố anh Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 07/4/1993; Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội cấp ngày 25/4/2021; HKTT và nơi ở: Xóm 7, thôn T, xã N, huyện Q, thành phố Hà Nội là người mất năng lực hành vi dân sự kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật.

- Cử bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1963 (mẹ đẻ của anh Đ); Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội cấp ngày 25/4/2021; HKTT và nơi ở: Xóm 7, thôn T, xã N, huyện Q, thành phố Hà Nội là người giám hộ đối với anh Nguyễn Văn Đ.

- Cử anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1989 (anh trai ruột của anh Đ); Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về Trật tự xã hội cấp ngày 25/4/2021; HKTT và nơi ở: Xóm 7, thôn T, xã N, huyện Q, thành phố Hà Nội là người giám sát việc giám hộ. Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ, người giám sát giám hộ được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị X là người cao tuổi nên miễn nộp lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm cho bà.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày họp hoặc nhận được Quyết định hợp lệ.

Cỡ chữ