- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim A - Phan Xích Tâm B"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” với bị đơn ông Phan Xích Nhất B, cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2023/HNGĐ-ST Ngày: 23/5/2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Như
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hưng
Bà Nguyễn Thị Bé Em
-Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoa Hạ - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Lại Đức Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 84/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 65/2023/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1990;
Cư trú: số A, khu phố M, phường B, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Ông Phan Xích Nhất B, sinh năm 1983;
Cư trú: số B khu phố N, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
(Bà A có đề nghị giải quyết vắng mặt; Ông B vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22/02/2023, bản tự khai, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: bà và chồng bà là ông Phan Xích Nhất B đăng ký kết hôn năm 2010 tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Hôn nhân do tự nguyện tìm hiểu. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Ngoài ra, quá trình chung sống, ông B thường xuyên nhậu nhẹt, cờ bạc, hai lần chấp hành phạt tù do phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản vào năm 2017 và phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy vào năm 2019. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 đến nay. Ông B chấp hành hình phạt tù xong vào tháng 8/2022. Vào tháng 11/2022, bà có nộp đơn ly hôn với ông B nhưng do thấy con chung còn nhỏ nên bà muốn cho ông B cơ hội hàn gắn tình cảm nhưng ông B vẫn chứng nào tật nấy, không lo làm ăn để cùng bà lo cho con chung và phát triển kinh tế chung gia đình. Nay, bà xác định không còn tình cảm với ông B, bà yêu cầu ly hôn với ông B.
Về con chung: bà và ông B có với nhau 02 con chung Phan Hồng Yến C, sinh ngày 07/8/2012 và Phan Xích Tâm D, sinh ngày 08/6/2015, hiện hai con đang sống chung với bà. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu trực tiếp nuôi hai con, bà không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không có.
Do bận công việc nên bà A đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt bà trong quá trình giải quyết toàn bộ vụ án. Bà A không còn yêu cầu nào khác.
Bị đơn Phan Xích Nhất B: quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã tống đạt thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập cho ông B theo đúng quy định nhưng ông B vắng mặt không có lý do.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: căn cứ điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà A; Về con chung, giao hai con chung cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận bà A không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung bà A khai không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: căn cứ đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim A đề ngày 22/02/2023 (BL03) cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc tranh chấp ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: tranh chấp ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn đây là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 3 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn ông Phan Xích Nhất B có nơi cư trú tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Đối chiếu điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: bà A có đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt (BL37), còn ông B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng ông B vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà A và ông B.
Về quan hệ hôn nhân: bà A và ông B đăng ký kết hôn vào năm 2010 tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre (BL05). Việc đăng ký kết hôn giữa bà A và ông B là hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị ép buộc, đã tuân thủ đúng theo quy định pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/2023 và biên bản lấy lời khai ngày 20/3/2023, bà A trình bày hiện nay vợ chồng chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân là do ông B hay nhậu nhẹt, không quan tâm gia đình. Đồng thời, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án thu thập được Bản án hình sự sơ thẩm số XYZ/2019/HS-ST ngày 22/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố B, nội dung bản án thể hiện vào năm 2017 và năm 2019 ông B có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (BL 31-34). Hội đồng xét xử xét thấy: mâu thuẫn vợ chồng giữa bà A và ông B thực tế có xảy ra, nguyên nhân chính là do bà A, ông B bất đồng quan điểm sống. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông B nhiều lần đến Tòa án nhằm tạo điều kiện cho ông và bà A hàn gắn tình cảm vợ chồng, tuy nhiên ông B vắng mặt, như vậy ông B có ý thức bỏ mặt việc bà A khởi kiện yêu cầu ly hôn và không có ý định hòa giải đoàn tụ. Bên cạnh đó, bà A trình bày vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 đến nay. Từ các tài liệu chứng cứ trên, căn cứ Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà A và ông B đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà A là phù hợp.
Về con chung: bà A trình bày hiện nay hai con chung đang sống chung với bà A, do bà A trực tiếp nuôi dưỡng. Tại biên bản ghi nguyện vọng con chung ngày 20/3/2023, cháu C và cháu Tâm D đều trình bày hiện nay hai cháu đang do mẹ trực tiếp chăm sóc và có nguyện vọng sống chung với mẹ (BL 23, 24). Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy để con chung phát triển ổn định, toàn diện cần giao cháu C và cháu Tâm D cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận sự tự nguyện của bà A tạm thời không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: bà A khai không có nên không xem xét.
Về các vấn đề khác: bà A khai không có nợ chung nên không xem xét.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà A phải chịu án phí ly hôn với số tiền 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- Các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim A về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” với bị đơn ông Phan Xích Nhất B, cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Kim A được ly hôn với ông Phan Xích Nhất B.
- Về con chung: giao cháu Phan Hồng Yến C, sinh ngày 07/8/2012 và Phan Xích Tâm D, sinh ngày 08/6/2015 cho bà Nguyễn Thị Kim A trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Kim A tạm thời không yêu cầu ông Phan Xích Nhất B cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên, không ai có quyền ngăn cản. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lợi dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: bà Nguyễn Thị Kim A khai không có nên không xem xét.
- Về các vấn đề khác: bà Nguyễn Thị Kim A khai không có nợ chung nên không xem xét.
2. Án phí: Bà Nguyễn Thị Kim A có nghĩa vụ chịu án phí ly hôn với số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số XYZ ngày 01/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Bến Tre.
3. Bà Nguyễn Thị Kim A và ông Phan Xích Nhất B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố B (1b); - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - CCTHADS thành B (1b); - UBND phường P - số 80/2010, ngày đăng ký 17/11/2010 (1b); - Các đương sự (2b); - Lưu hồ sơ, VP (3b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký, đóng dấu) Huỳnh Thị Thanh Như |