vanban.org

Quyết định 38/2021/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 21/12/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Phan Thị yêu cầu tuyên bố một người là đã chết.

Tuyên bố: Ông Phạm Văn D, sinh năm: 1966, nơi cư trú cuối cùng: Tổ 6, khu vực 1, phường T, thành phố Q, tỉnh B là đã chết. Ngày chết của ông Phạm Văn D được xác định là ngày 09/12/1995. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Phan Thị L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Phan Thị yêu cầu tuyên bố một người là đã chết.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ Q
TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 38/2021/QĐST-DSQ, ngày 21 tháng 12 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v “Yêu cầu Tuyên bố một người là đã chết”

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q, TỈNH B

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Hương

Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh B.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh B tham gia phiên họp: Ông Phạm Ngọc Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh B mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 185/2021/TLST-VDS ngày 22 tháng 7 năm 2021 về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 17/2021/QĐST-DS ngày 10 tháng 12 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Bà Phan Thị L, sinh naêm: 1965 (có mặt).

Địa chỉ: Tổ 6, khu vực 1, P. T, Tp. Q, tỉnh B.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Phạm Thị Thùy T, sinh năm: 1985 (có mặt).

Địa chỉ: Tổ 16, khu vực 3, P. G, Tp. Q, tỉnh B.

2. Chị Phạm Thị Xuân Đ, sinh năm: 1987 (có mặt).

Địa chỉ: Tổ 6, khu vực 1, P. T, Tp. Q, tỉnh B.

3. Chị Phạm Thị Mỹ T, sinh năm: 1992 (có mặt).

Địa chỉ: Tổ 6, khu vực 1, P.T, Tp. Q, tỉnh B.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 02/6/2021 và tại bản tự khai cũng như trong quá trình giải quyết việc dân sự, bà Phan Thị L trình bày:

Bà và ông Phạm Văn D sống chung với nhau vào năm 1984 không đăng ký kết hôn. Vợ chồng bà chung sống tại tổ 6, khu vực 1, phường T, thành phố Q, tỉnh B và sinh được 03 người con là Phạm Thị Thùy T, Phạm Thị Xuân Đ và Phạm Thị Mỹ T. Ngày 08/12/1993, ông D đi biển gặp bão bị tai nạn rơi xuống biển đến nay không trở về địa phương, bà và gia đình đã nhiều lần tìm kiếm, hỏi thăm tin tức khắp nơi nhưng không có kết quả. Đồng thời, UBND phường T có xác nhận về việc ông D đi biển bị tai nạn đến nay chưa về lại địa phương là đúng. Nay bà yêu cầu Tòa án nhân dân Tp. Q tuyên bố ông Phạm Văn D là đã chết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị Thùy T, chị Phạm Thị Xuân Đ và chị Phạm Thị Mỹ T trình bày:

Các chị: T, Đ, T đều là các con của bà Phan Thị L và ông Phạm Văn D đều xác nhận ngày 08/12/1993 ông D đi biển gặp bão bị tai nạn rơi xuống biển đến nay không về, gia đình cũng đã tìm kiếm trong thời gian dài nhưng không có kết quả nên các con của bà L thống nhất với ý kiến của bà L là yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Văn D là đã chết theo quy định pháp luật.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết việc dân sự: Đề nghị Tòa áp dụng điểm c khoản 1 Điều 71 Bộ luật dân sự và Điều 393 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận đơn yêu cầu của bà Phan Thị L yêu cầu tuyên bố ông Phạm Văn D là đã chết và xác định ngày chết của ông D là ngày 08/12/1993.

Về lệ phí: Bà Phan Thị L phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh B nhận định:

Bà Phan Thị L và ông Phạm Văn D chung sống với nhau vào năm 1984 không đăng ký kết hôn; việc chung sống như vợ chồng của bà và ông D đã được UBND phường T, Tp. Q xác nhận. Theo quy định tại điểm a khoản 3 Nghị quyết số: 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội thì quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông D được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống tại địa chỉ: Tổ 6, khu vực 1, phường T, thành phố Q, tỉnh B, ngày 08/12/1993 ông D đi biển gặp bão bị tai nạn rơi xuống biển. Từ đó đến nay ông D không có liên lạc gì với gia đình, không trở về địa phương và cũng không có tin tức xác thực là ông D còn sống. Mặc dù, bà L và gia đình đã nhiều lần tìm kiếm, hỏi thăm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì về ông Phạm Văn D còn sống hay đã chết. Qua xác minh tại Công an phường T xác nhận là ông Phạm Văn D có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 6, khu vực 1, phường T, thành phố Q. Năm 1993 ông D đi khỏi địa phương không rõ đi đâu. Do ông D vắng mặt ở địa phương quá lâu nên năm 2000 Công an đã làm thủ tục xóa khẩu ông D. Mặc khác, UBND phường T có xác nhận về việc ông D đi biển bị tai nạn vào ngày 08/12/1993 đến nay không về lại địa phương là đúng. Nay bà Phan Thị L yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Văn D là đã chết.

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu, theo quy định tại Điều 392 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Q đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với ông Phạm Văn D. Bà L đã thực hiện xong việc thông báo tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định pháp luật. Hết thời hạn theo quy định tại Điều 392 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì về ông Phạm Văn D.

Như vậy, bà Phan Thị L yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Văn D, sinh năm 1966; nơi cư trú cuối cùng: Tổ 6, Khu vực 1, phường T, thành phố Q đã chết là có căn cứ và phù hợp với quy định tại các Điều 391, 392, 393 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm c khoản 1 Điều 71, Điều 72 Bộ luật dân sự nên được chấp nhận.

Về thời điểm để xác định ông Phạm Văn D đã chết: Ông Phạm Văn D bị tai nạn rơi xuống biển do bão vào ngày 08/12/1993. Căn cứ khoản 2 Điều 71 Bộ luật dân sự xác định ngày ông Phạm Văn D chết là ngày 09/12/1995.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Phan Thị L phải chịu theo quy định pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q về quan điểm giải quyết việc dân sự phù hợp một phần với nhận định của Tòa nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 27; các Điều 149, 391, 392, 393 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 71; Điều 72 của Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Phan Thị yêu cầu tuyên bố một người là đã chết.

Tuyên bố: Ông Phạm Văn D, sinh năm: 1966, nơi cư trú cuối cùng: Tổ 6, khu vực 1, phường T, thành phố Q, tỉnh B là đã chết.

Ngày chết của ông Phạm Văn D được xác định là ngày 09/12/1995.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình; quan hệ về tài sản và các quan hệ nhân thân khác của ông Phạm Văn D được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông D được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

2. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Phan Thị L phải nộp 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số 0002780 ngày 22 tháng 7 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q (bà L đã nộp xong).

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B có quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ