vanban.org

Quyết định 374/2022/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

TAND Quận 5, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 21/09/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự, cụ thể như sau:

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Trọng H và bà Vũ Thị Bình Đ thuận tình ly hôn (Giấy chứng nhận kết hôn số 84 đăng ký ngày 30/10/2018 tại Ủy ban nhân dân Phường M, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh). 2. Về con chung: Ông Nguyễn Trọng H và bà Vũ Thị Bình Đ xác nhận ông bà có 01 (một) con chung, họ và t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị Bình Đ - Nguyễn Trọng H"
  • Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 374/2022/QĐST-HNGĐQuận 5, ngày 21 tháng 9 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Căn cứ vào Khoản 4 Điều 397, Điều 212, Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 116, Điều 117, Điều 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Căn cứ vào Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản sau khi ly hôn” thụ lý số 222/2022/TLST – HNGĐ ngày 12 tháng 07 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

- Bà Vũ Thị Bình Đ, sinh năm 1992;

- Ông Nguyễn Trọng H, sinh năm 1995;

Cùng địa chỉ: Số 93/158 BV, Phường M, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa Nguyễn Trọng H và bà Vũ Thị Bình Đ qua thời gian tìm hiểu 01 (một) năm thì cả hai tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2018 có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn vào năm 2018 (Giấy chứng nhận kết hôn số 84 đăng ký ngày 30/10/2018 tại Ủy ban nhân dân Phường M, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh) theo quy định pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp, do đó khi có yêu cầu ly hôn được áp dụng các quy định về ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình và thủ tục giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình chung sống hạnh phúc được 01 (một) năm thì xảy ra mâu thuẫn. trong công việc thì vợ chồng không sắp xếp được thời gian làm việc, không dành thời gian cho gia đình và chăm sóc con cái. Cả hai đã cố gắng cùng nhau khắc phục sửa chữa nhưng không có kết quả và đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2020 đến nay. Nay cảm thấy tình cảm vợ chồng đã hết, mục đích hôn nhân không đạt được và không có khả năng đoàn tụ nên cả hai bên cùng thống nhất yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn là phát sinh việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Xét thấy, mục đích hôn nhân giữa ông Nguyễn Trọng H và bà Vũ Thị Bình Đ không đạt được và không có khả năng đoàn tụ. Việc thuận tình ly hôn của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên chấp nhận.

Về con chung: Ông Nguyễn Trọng H và bà Vũ Thị Bình Đ xác nhận ông bà có 01 (một) con chung, họ và tên: Nguyễn Bảo K, sinh ngày 14/4/2020.

Ông Nguyễn Trọng H và bà Vũ Thị Bình Đ thỏa thuận sau khi ly hôn: Giao con chung, họ và tên: Nguyễn Bảo K, sinh ngày 14/4/2020 cho bà Vũ Thị Bình Đ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Trọng H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung, mỗi tháng 3.000.000 (Ba triệu) đồng. Cấp dưỡng vào ngày 05 dương lịch hàng tháng, bắt đầu thực hiện từ tháng 10/2022 cho đến khi phát sinh các căn cứ chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Xét, thỏa thuận này của các đương là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, nên chấp nhận.

Về tài sản chung: Ông Nguyễn Trọng H và bà Vũ Thị Bình Đ xác nhận tài sản chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông Nguyễn Trọng H và bà Vũ Thị Bình Đ cùng cam đoan không có khoản nợ nào chung và cũng không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về lệ phí việc dân sự: Ông Nguyễn Trọng H và bà Vũ Thị Bình Đ tự nguyện nộp toàn bộ lệ phí theo quy định về lệ phí, án phí của Tòa án.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự, cụ thể như sau:

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Trọng H và bà Vũ Thị Bình Đ thuận tình ly hôn (Giấy chứng nhận kết hôn số 84 đăng ký ngày 30/10/2018 tại Ủy ban nhân dân Phường M, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh).

1.2. Về con chung: Ông Nguyễn Trọng H và bà Vũ Thị Bình Đ xác nhận ông bà có 01 (một) con chung, họ và tên: Nguyễn Bảo K, sinh ngày 14/4/2020.

Ông Nguyễn Trọng H và bà Vũ Thị Bình Đ thỏa thuận sau khi ly hôn: Giao con chung, họ và tên: Nguyễn Bảo K, sinh ngày 14/4/2020 cho bà Vũ Thị Bình Đ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Trọng H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung, mỗi tháng 3.000.000 (Ba triệu) đồng vào ngày 05 dương lịch hàng tháng, bắt đầu thực hiện từ tháng 10/2022 cho đến khi phát sinh các căn cứ chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Ông Nguyễn Trọng H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp ông H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà Đ có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông H. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Trong trường hợp ông Nguyễn Trọng H chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì ông H phải chịu thêm tiền lãi của số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

1.3. Về tài sản chung: Ông Nguyễn Trọng H và bà Vũ Thị Bình Đ xác nhận tài sản chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

1.4. Về nợ chung: Ông Nguyễn Trọng H và bà Vũ Thị Bình Đ cùng cam đoan không có khoản nợ nào chung và cũng không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về lệ phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Trọng H và bà Vũ Thị Bình Đ chịu tiền lệ phí dân sự sơ thẩm đối với việc hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số AA/2021/0010004 ngày 12/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Vậy ông Nguyễn Trọng H và bà Vũ Thị Bình Đ đã nộp đủ lệ phí.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ