vanban.org

Quyết định 374/2019/QĐPT

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 18/06/2019 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/06/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Xuân N. Giữ nguyên

Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 62/2018/QĐST-HC, ngày 31 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. 2/ Về án phí hành chính phúc thẩm: Ông Nguyễn Xuân N phải nộp Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Xuân N kiện UBND huyện X"
  • Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Xuân N. Giữ nguyên
  • Căn cứ chính? Điều 243 Luật Tố tụng hànhchính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
___________________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 374/2019/QĐPT-HC

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Võ Văn Khoa

Các Thẩm phán:

Ông Đặng Văn Thành

Bà Đinh Ngọc Thu Hương

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên họp: Ông Vũ Thanh Sơn, Kiểm sát viên.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Ông Lê Văn Duẩn, Thư ký Tòa

án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN THẤY:

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số

62/2018/QĐST-HC, ngày 31 tháng 10 năm 2018, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã căn cứ vào điểm a khoản2 Điều 116, điểm g khoản 1 Điều 143, Điều 144 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Điều 3 Nghị quyết số 56/2010/QH12 của Quốc hội, khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2015/NQ-HĐTP ngày 15/01/2015 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 142/2018/TLST-HC ngày 03 tháng 7 năm 2018, về việc “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về thu hồi đất, về bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất”; giữa:

- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Xuân N và bà Vũ Thị T; Cùng địa chỉ cư

trú: xóm 8, xã N, huyện N1, tỉnh Thanh Hoá.

- Người bị kiện: Uỷ ban nhân dân huyện X; Địa chỉ trụ sở: Quốc lộ 55, thị

trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; Địa chỉ trụ sở: đường Ph,

phường P1, thành phố B, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

2/ Công ty cổ phần cao su T; Địa chỉ trụ sở: Đường 27/4, phường P1,

thành phố B, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

3/ Công ty cổ phần nông nghiệp H; Địa chỉ trụ sở: đường Ng, phường Đ,

Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Lý do đình chỉ mà Toà án cấp sơ thẩm đưa ra là thời hiệu khởi kiện vụ án

hành chính đã hết.

Tại đơn kháng cáo đề ngày 12 tháng11năm 2018, ông Nguyễn Xuân N là

người khởi kiện, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 62/2018/QĐST-HC,ngày 31 tháng 10 năm 2018, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

Lý do kháng cáo mà ông N đưa ra là: Việc khiếu nại của ông là liên tục

nhưng không được cơ quan chức năng giải quyết. Việc hết thời hiệu khởi kiện là do lỗi của các cơ quan Nhà nước.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ

Chí Minh tham gia phiên họp yêu cầu giữ nguyên quyết định sơ thẩm.

XÉT THẤY:

Về hình thức:Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Xuân N làm trong hạn

luật định, hợp lệ, và đã nộp tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của pháp luật nên được công nhận.

Vềnội dung kháng cáo:

Việc khiếu nại của 85 hộ gia đình (trong đó có hộ ông Nguyễn Xuân N,

bà Vũ Thị T) về việc thu hồi 500ha đất tại xã H1, B đã được UBND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu giải quyết theo các quyết định sau đây:

- Quyết định số 460/QĐ-UBT ngày 23/5/1994, có nội dung không chấp

nhận khiếu nại của ông N;

- Quyết định số 807/QĐ-UBT ngày 12/4/1996, có nội dung công nhận

đường ranh giới giữa Công ty cao su T và xã H1 trên diện tích 3.600ha;

- Quyết định số 6520/QĐ-UBT ngày 20/8/2001, có nội dung không cấp

nhận khiếu nại của ông N.

Do đó, việc khiếu nại của ông N đã được UBND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

giải quyết lần cuối cùng vào ngày 20/8/2001 và ông N nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính ngày 08/02/2018 là đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Điều 3 Nghị quyết số 56/2010/QH12 của Quốc hội, khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2015/NQ-HĐTP ngày 15/01/2015 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

Từ những phân tích nêu trên, xét thấy kháng cáo của ông N là không có

căn cứ để chấp nhận. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp là có căn cứ, phù hợp với quan điểm của Hội đồng phúc thẩm nên được chấp nhận. Cần giữ nguyên quyết định sơ thẩm.

2

Do giữ nguyên quyết định sơ thẩm nên ông N phải chịu án phí

hànhchínhphúc thẩm theo luật định.

Căn cứ vào điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 243 Luật Tố tụng hànhchính

năm 2015;

Căn cứ Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Xuân N. Giữ nguyên

Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 62/2018/QĐST-HC, ngày 31 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

2/ Về án phí hành chính phúc thẩm: Ông Nguyễn Xuân N phải nộp

300.000 (ba trăm ngàn) đồng. Được trừ vào 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0006078 ngày 08 tháng 01 năm 2019 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

3/ Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ