- Tranh chấp gì? "TRẦN THỊ G - UBND HUYỆN L"
- Tòa quyết gì? Bác yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện là bà Trần Thị G.
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật tố tụng hành chính; Điều 116 Luật tố tụng hành chính; Điều 143 Luật tố tụng hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 371/2023/QĐ-PT | TP. Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 5 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Phan Nhựt Bình
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Trí Tuấn
Ông Nguyễn Văn Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 20/2022/QĐST-HC ngày 30 tháng 8 năm 2022, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã căn cứ vào khoản 3 Điều 116, điểm a, điểm d khoản 1 Điều 123, điểm h khoản 1 Điều 143, Điều 144 và Điều 165 của Luật tố tụng hành chính năm 2015 quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai”, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Trần Thị G, sinh năm 1943
Địa chỉ: Thôn Nhân H, xã Đan P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện: Luật sư Nguyễn Thị H – Đoàn luật sư tỉnh Lâm Đồng.
- Người bị kiện: Uỷ ban nhân dân huyện L
Địa chỉ: Khu hành chính thị trấn Đinh V, huyện L, tỉnh Lâm Đồng
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Sỹ B – Chức vụ: Chủ tịch
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh A – Chức vụ: Phó Chủ tịch.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người bị kiện: Ông Tạ Xuân T – Chức vụ: Phó phòng Tài nguyên và môi trường huyện L
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Nguyễn Duy P, sinh năm 1940 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1945
Địa chỉ: Thôn T1, xã Tân H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng
2/ Ông Kiều Quang N, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị Lan P1 (Nguyễn Thị P1), sinh năm 1960
Địa chỉ: Thôn T1, xã Tân H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng
Tại đơn kháng cáo đề ngày 05/9/2022, người khởi kiện là bà Trần Thị G đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp phát biểu quan điểm giải quyết vụ việc: Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng phúc thẩm bác kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm.
XÉT THẤY:
Hồ sơ vụ án thể hiện, năm 1997, Uỷ ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 508m2 thuộc thửa 188, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại xã Tân Hà, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng cho bà Trần Thị G theo Quyết định số 666/QĐ-UBND ngày 26/11/1997. Ngày 29/7/2000, Uỷ ban nhân dân huyện L ban hành Quyết định số 513/QĐ-UBND thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên. Ngày 31/12/2011, Uỷ ban nhân dân huyện L ban hành Quyết định số 1030/2001/QĐ-UB cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà G đối với thửa 188 với diện tích là 340,5m2. Sau khi bà G có khiếu nại, ngày 11/4/2002, Uỷ ban nhân dân huyện L có Quyết định số 205/2002/QĐ-UB giải quyết khiếu nại của bà G với nội dung: Không chấp nhận đơn đòi 167,5m2 đất của bà G tại xã Tân Hà để đủ diện tích 508m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã bị thu hồi theo Quyết định số 513/QĐ-UBND ngày 29/7/2000. Không đồng ý, bà G khởi kiện vụ án hành chính đối với các quyết định nêu trên. Tại bản án hành chính sơ thẩm số 01/HC-ST ngày 06/9/2002 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà và bản án hành chính phúc thẩm số 02/HC-PT ngày 20/12/2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử bác yêu cầu khởi kiện của bà G và giữ nguyên các Quyết định 1030/2001/QĐ-UB và 205/2002/QĐ-UB.
Năm 2001, bà Nguyễn Thị M có đơn đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 240m2 thuộc thửa 240 (được chỉnh lý từ thửa 188), tờ bản đồ số 2 tại xã Tân Hà. Ngày 15/10/2001, Uỷ ban nhân dân huyện L ban hành Quyết định số 807/QĐ-UB cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 754908 đối với thửa 284, diện tích 240m2 cho hộ bà M. Ngày 05/9/2005, vợ chồng bà M lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng phần đất trên cho ông Kiều Quang N và bà Nguyễn Thị P1. Ngày 30/9/2005, Uỷ ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 225852 cho ông N, bà P1
Bà G khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 807/QĐ-UB và các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà M, ông N, bà P1, vì cho rằng diện tích được cấp trong các giấy chứng nhận trên thuộc thửa 284 (được chỉnh lý từ thửa 188) là phần đất nằm trong diện tích 508m2 thuộc thửa 188 mà Xí nghiệp dâu tằm tơ Lộc Nam đã cấp cho bà vào năm 1995.
Xét thấy, yêu cầu của bà G đối với diện tích 167,5m2 thửa 188 không được Uỷ ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án nêu tại mục [1], theo đó bà G không được công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất trên. Do đó, việc Uỷ ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích đất này cho bà M, ông N và bà P1 không liên quan, không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà G nên bà G không có quyền khởi kiện đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà M, ông N và bà P1 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 123 Luật tố tụng hành chính, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện này là có căn cứ.
Đối với yêu cầu khởi kiện về việc hủy Quyết định 513/QĐ-UBND ngày 29/7/2000 của Uỷ ban nhân dân huyện L: Quyết định 513/QĐ-UBND ngày 29/7/2000 là cơ sở làm phát sinh các quyết định hành chính tiếp theo liên quan đến diện tích 167,5m2 thuộc thửa 188. Tuy nhiên, khi khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu xem xét đối với Quyết định 1030/2001/QĐ-UB và 205/2002/QĐ-UB vào năm 2002 thì bà G đã biết Quyết định 513/QĐ-UBND nhưng không yêu cầu xem xét Quyết định này trong vụ án trên. Đến ngày 17/5/2021, bà G mới khởi kiện đối với Quyết định 513/QĐ-UBND là hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 3 Điều 116 Luật tố tụng hành chính. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này là phù hợp.
Từ những phân tích trên, Hội đồng phúc thẩm xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án là căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, người khởi kiện kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới chứng minh nên bác kháng cáo và giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính của Tòa án cấp sơ thẩm như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp là có cơ sở chấp nhận.
Án phí hành chính phúc thẩm: Bà Trần Thị G, sinh năm 1943 là người cao tuổi nên được miễn theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ vào Điều 243 Luật Tố tụng hành chính,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Bác yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện là bà Trần Thị G.
Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 20/2022/QĐST-HC ngày 30 tháng 8 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
2. Về án phí hành chính phúc thẩm: Bà Trần Thị G được miễn.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra Quyết định./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao (1); - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1); - TAND tỉnh Lâm Đồng (1); - VKSND tỉnh Lâm Đồng (1); - Cục THADS tỉnh Lâm Đồng (1); - Các đương sự (6); - Lưu HSVA (1), VP (5), 17b (QĐ-PPC); | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký) Phan Nhựt Bình |