vanban.org

Quyết định 37/QĐ-TA

TAND TP. Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 31/07/2018 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng, địa chỉ: Số T, đường N, khóm H, phường N, thành phố P đối với anh Trần Văn T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày 19/6/2018. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị, anh Trần Thanh T có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "QĐ ADBPXLHC DVCSCNBB TRAN VAN T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng, địa chỉ: Số T, đường N, khóm H, phường N, thành phố P đối với anh Trần Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_______________________
Số: 37/QĐ-TA
Sóc Trăng, ngày 31 tháng 7 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Bích Tuyền

2. Thư ký phiên họp: Ông Đặng Chí Thức

Ngày 31 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 146/QĐ-TA ngày 24 tháng 7 năm 2018 đối với:

Họ và tên: Trần Văn T, Giới tính: Nam

Sinh năm: 1988.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: 01/12.

Nguyên quán: Thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Đường B, khóm H, phường N, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng.

Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định.

Nghề nghiệp: Không.

Tiền án: 02. Ngày 19/6/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố P xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù và được trại giam Bến Giá xác nhận chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/5/2015. Ngày 23/6/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố P xử phạt 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù và được trại giam Phước Hòa cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù ngày 14/3/2018.

Tiền sự: Không.

Con ông Trần Văn T1. Đăng ký thường trú tại: Đường B, khóm H, phường N, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng.

Và bà Phạm Thị H (chết năm 2011).

(Có mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Huỳnh Thanh H - chức vụ: Cán sự phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố P theo Giấy ủy quyền ngày 30 tháng 7 năm 2018 của Phó Trưởng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố P.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Lê Ngọc, Kiểm sát viên.

3. Những người khác:

Ông Hoàng T – Phó Trưởng Công an phường S, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng.

NHẬN THẤY:

Anh Trần Văn T không có nơi cư trú ổn định. Đến ngày 19/6/2018 Công an phường S, thành phố P cùng Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng, Bệnh viện Quân dân y Sóc Trăng kiểm tra chất ma túy đối với anh T, kết quả anh T dương tính với ma túy (Methamphetamine, Morphine MOP) nên Công an phường S, thành phố P lập biên bản vi phạm hành chính và lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T.

Ý kiến của Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố P, tỉnh Sóc Trăng tại phiên họp: Anh Trần Văn T là đối tượng sống lang thang không có nơi cư trú ổn định và có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và nghiện ma túy nên đề nghị Tòa án nhân dân thành phố P xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng đối với anh Trần Văn T thời gian là 20 (hai mươi) tháng.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng: Từ khi thụ lý đến phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng đã thực hiện về trình tự, thủ tục đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trần Văn T được tiến hành đúng trình tự thủ tục, thẩm quyền và đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trần Văn T theo đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố P, tỉnh Sóc Trăng.

Ý kiến của anh Trần Văn T tại biên bản ghi lời khai ngày 19/6/2018 của Công an phường S, thành phố P và bản tường trình ngày 19/6/2018 và tại phiên họp thì anh T thừa nhận đã thực hiện hành vi sử trái phép chất ma túy và lần cuối cùng sử dụng là ngày 18/6/2018.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và được thẩm tra tại phiên họp cũng như ý kiến của cơ quan đề nghị, ý kiến của người bị đề nghị, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, thấy rằng:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào Cơ ở Cai nghiện bắt buộc đối với anh Trần Văn T phù hợp với quy định tại Điều 103, Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét thấy, căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính do Công an phường S, thành phố P lập ngày 19/6/2018, bản tường trình của anh Trần Văn T, lời thừa nhận của anh T tại phiên họp, có đủ cơ sở để xác định anh Trần Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Căn cứ vào biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 19/6/2018, phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 19/6/2018 của Bệnh viện quân dân y Sóc Trăng kết luận anh T nghiện ma túy (Methamphetamine, Morphine MOP). Anh T đã trên 18 tuổi. Tại phiên họp anh T trình bày, anh có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Đường B, khóm H, phường N, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng nhưng căn nhà này cha mẹ anh T đã bán cho người khác, sau khi anh T chấp hành án về thì không có chỗ ở và thường xuyên sống lang lang trên đường Đường B,thuộc phường N, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng. Đồng thời, căn cứ vào kết quả xác minh của Công an phường S, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng đã xác định anh T không có nơi cư trú ổn định. Do đó, anh T thuộc đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 3, Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ và khoản 1 Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Anh T không có tình tiết tăng nặng, đồng thời trong quá trình Công an phường S mời anh T đến làm việc đã tự nguyện khai báo nên đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính, cần xem xét, áp dụng đối với anh Trần Văn T.

Vì vậy, đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố P, tỉnh Sóc Trăng về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trần Văn T là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên,

Áp dụng vào Điều 6, Điều 9, Điều 95; Khoản 1 Điều 96; Điều 103; Điều 104; Điều 105; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Áp dụng vào Điều 3, Điều 22 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Sóc Trăng, địa chỉ: Số T, đường N, khóm H, phường N, thành phố P đối với anh Trần Văn T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày 19/6/2018.

3. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị, anh Trần Thanh T có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố P, tỉnh Sóc Trăng chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố P, tỉnh Sóc Trăng thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ