vanban.org

Quyết định 37/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đào Văn Hầư.

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa ông Đào Văn Hầư và bà Đào Thị Mỷ là vợ chồng. Về con chung: Giao cháu Đào Văn Chiến, sinh ngày 20/11/2019 cho bà Đào Thị Mỷ được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Đào Văn Hầư không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi chấm dứt … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "đào văn H đào thị m"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đào Văn Hầư.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2026/HNGĐ-ST
Ngày 03/4/2026
“V/v: Không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh
chấp về nuôi con của nam nữ chung sống với nhau
như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - TUYÊN QUANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ma Ngọc Trung

Các hội thẩm nhân dân: Ông Lương Quang Toán và bà Nông Thị Sinh

Thư ký Toà án: Ông Hoàng Việt Anh – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3

- Tuyên Quang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2026 tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 01/2026/TLST - HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2026 về việc: Không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con của nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2026/QĐST – HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Đào Văn Hầư, sinh năm 1977

Địa chỉ: Thôn Nà Cào, xã Thượng Nông, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Đào Thị Mỷ, sinh năm 1979

Địa chỉ: Thôn Nà Cào, xã Thượng Nông, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, nội dung bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản hoà giải, nguyên đơn ông Đào Văn Hầư trình bày:

- Về hôn nhân: Ông và bà Đào Thị Mỷ qua tự nguyện tìm hiểu đã về chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1997, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi vào tháng 02/1997 nhưng từ đó tới nay ông bà không thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Đến 2018 ông bà bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng đã ly thân từ năm 2022, không còn chung sống cùng nhau cho đến nay. Ông xác định không còn tình cảm với bà Đào Thị Mỷ nữa, vợ chồng mâu thuẫn đã lâu không thể cải thiện, hiện cũng không còn chung sống, quan tâm chăm sóc gì nhau, ông đề nghị được ly hôn với bà Đào Thị Mỷ.

- Về con chung: Ông và bà Đào Thị Mỷ có 04 con chung là cháu Đào Thị Tam, sinh ngày 19/5/1998, cháu Đào Văn Cường, sinh ngày 28/11/2002, cháu Đào Văn Quang, sinh ngày 28/02/2006 và cháu Đào Văn Chiến, sinh ngày 20/11/2019. Cháu Tam, cháu Cường và cháu Quang hiện đã đủ tuổi trưởng thành, phát triển bình thường nên không đề nghị giải quyết. Ông đề nghị giao cháu Chiến cho cho bà Mỷ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Ông không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết

Tại nội dung biên bản ghi lời khai, biên bản hòa giải bị đơn trình bày:

- Về hôn nhân: Bà và ông Đào Văn Hầu qua tự nguyện tìm hiểu đã về chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1997, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi vào tháng 02/1997 nhưng từ đó tới nay ông bà không thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Đến 2018 giữa ông bà bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng ông bà đã ly thân từ năm 2022, không còn chung sống cùng nhau cho đến nay. Nay ông Đào Văn Hầu đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng thì bà không nhất trí.

- Về con chung: Ông bà có 04 con chung là cháu Đào Thị Tam, sinh ngày 19/5/1998, cháu Đào Văn Cường, sinh ngày 28/11/2002, cháu Đào Văn Quang, sinh ngày 28/02/2006 và cháu Đào Văn Chiến, sinh ngày 20/11/2019. Cháu Tam, cháu Cường và cháu Quang hiện đã đủ tuổi trưởng thành, phát triển bình thường nên tôi không đề nghị giải quyết. Nếu phải giải quyết ly hôn bà đề nghị giao cháu Chiến cho bà được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Bà không yêu cầu ông Hầu phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, ông Đào Văn Hầư và bà Đào Thị Mỷ đều vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt,) và giữ nguyên ý kiến, quan điểm đã trình bày như trên và không thay đổi, bổ sung gì.

Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND xã Thượng Nông xác ông Đào Văn Hầư và bà Đào Thị Mỷ có chung sống như vợ chồng nhưng chưa thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Tuyên Quang phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với đương sự: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 51, khoản 2 Điều 53, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28; các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đào Văn Hầư, xử không công nhận quan hệ giữa ông Đào Văn Hầư và bà Đào Thị Mỷ là vợ chồng; về con chung: Giao con chung là cháu Đào Văn Chiến, sinh ngày 20/11/2019 cho bà Đào Thị Mỷ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ông Hầư không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi chấm dứt quan hệ hôn nhân và có quyền được đi lại, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Về án phí: Ông Hầu thuộc diện người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định; bà Mỷ không phải chịu án phí. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Về khắc phục kiến nghị vi phạm trong tố tụng: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Ông Đào Văn Hầư có đơn khởi kiện yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng do nam nữ chung sống mà không có đăng ký kết hôn với bị đơn là bà Đào Thị Mỷ, ông Hầư và bà Mỷ chung sống với nhau từ năm 1997 không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc không công nhận quan hệ vợ chồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 7 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Đào Thị Mỷ có khẩu thường trú tại: Thôn Nà Cào, xã Thượng Nông, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Tuyên Quang.

Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Đào Văn Hầư vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn bà Đào Thị Mỷ vắng mặt có đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Ông Đào Văn Hầư và bà Đào Thị Mỷ tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1997 nhưng kể từ đó đến nay chưa từng làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định là vi phạm quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình về đăng ký kết hôn. Ông Đào Văn Hầư yêu cầu được chấm dứt mối quan hệ giữa ông và bà Đào Thị Mỷ, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 51, khoản 2 Điều 53, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đào Văn Hầư về việc không công nhận quan hệ giữa ông và bà Đào Thị Mỷ là vợ chồng.

Về con chung: Quá trình chung sống ông bà có 04 con chung là cháu Đào Thị Tam, sinh ngày 19/5/1998, cháu Đào Văn Cường, sinh ngày 28/11/2002, cháu Đào Văn Quang, sinh ngày 28/02/2006 và cháu Đào Văn Chiến, sinh ngày 20/11/2019. Cháu Tam, cháu Cường và cháu Quang hiện đã đủ tuổi trưởng thành, phát triển bình thường nên không đề nghị giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét. Ông Hầư và bà Mỷ đều có nguyện vọng giao cháu Đào Văn Chiến, sinh ngày 20/11/2019 cho bà Mỷ được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, xử giao cháu Đào Văn Chiến cho bà Mỷ được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp. Ông Hầư không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi chấm dứt quan hệ hôn nhân với ông bà Mỷ và có quyền, nghĩa vụ đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Không có, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Ông Đào Văn Hầư thuộc diện người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định; bà Mỷ không phải chịu án phí.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 7 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 51, khoản 2 Điều 53, Điều 57, Điều 81 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đào Văn Hầư.

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa ông Đào Văn Hầư và bà Đào Thị Mỷ là vợ chồng.

2. Về con chung: Giao cháu Đào Văn Chiến, sinh ngày 20/11/2019 cho bà Đào Thị Mỷ được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Đào Văn Hầư không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi chấm dứt quan hệ hôn nhân với bà Mỷ và có quyền và nghĩa vụ đi lại, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Ông Đào Văn Hầư được miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Bà Đào Thị Mỷ không phải chịu án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ