vanban.org

Quyết định 37/2024/QĐCNTTLH — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải

được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 02 tháng 4 năm 2024, cụ thể như sau: Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Linh và anh Bùi Văn Hùng thuận tình ly Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Trần Thị L đề nghị ly hôn với anh Bùi Văn H"
  • Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TAND TỈNH HÒA BÌNH
TAND HUYỆN LẠC SƠN
------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 37/2024/QĐCNTTLHLạc Sơn, ngày 18 tháng 4 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC BÊN

THAM GIA HÒA GIẢI TẠI TÒA ÁN

Căn cứ các điều 32, 33, 34 và 35 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ các Điều Điều 55; 81; 82; 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của chị Trần

Thị Linh và anh Bùi Văn Hùng.

Sau khi nghiên cứu:

- Đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 3 năm 2024 về việc yêu cầu ly hôn của chị

Trần Thị Linh;

- Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 02 tháng 4 năm 2024 về thuận tình ly

hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải sau đây:

Người khởi kiện: Chị Trần Thị Linh, sinh năm 1994. Nơi ĐKNKTT: xóm Tưa

3, xã Ân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.

Người bị kiện: Anh Bùi Văn Hùng, sinh năm 1990. Nơi ĐKNKTT: xóm Tưa 3,

xã Ân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.

- Các tài liệu kèm theo Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải do Hòa giải viên

chuyển sang Tòa án và các tài liệu do Tòa án thu thập được theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Việc thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi

trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 02 tháng 4 năm 2024 có đủ các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải

được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 02 tháng 4 năm 2024, cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Linh và anh Bùi Văn Hùng thuận tình ly

hôn.

- Về con chung: chị Trần Thị Linh và anh Bùi Văn Hùng có 01 con chung là

cháu Bùi Trần Nhật Minh, sinh ngày 05/9/2022. Khi ly hôn, hai bên thỏa thuận giao con chung là Bùi Trần Nhật Minh cho chị Trần Thị Linh trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Bùi Văn Hùng phải thực hiện cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn với chị Linh mỗi tháng 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của chị Trần Thị Linh mà anh Bùi Văn

Hùng không thi hành khoản tiền cấp dưỡng nuôi con, thì hàng tháng anh Bùi Văn Hùng phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành tương ứng với thời gian chậm thi hành, theo lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai

được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Về tài sản chung; công nợ chung: Không có.

Ngoài ra hai bên thỏa thuận anh Bùi Văn Hùng có trách nhiệm trả cho chị Trần

Thị Linh số tiền 44.400.000đ trước ngày 01/01/2025.

2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký, không bị kháng cáo, kháng

nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Cỡ chữ