vanban.org

Quyết định 37/2022/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Bà Nguyễn Thị N với ông Nguyễn Nhật T. Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị N với ông Nguyễn Nhật T chấm dứt kể từ ngày quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

VKSND huyện Bù Gia Mập; TAND tỉnh Bình Phước; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Bà Nguyễn Thị N với ông Nguyễn Nhật T. Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị N với ông Nguyễn Nhật T chấm dứt kể từ ngày quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ GIA MẬP
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 37/2022/QĐST-HNGĐBù Gia Mập, ngày 26 tháng 5 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬNCỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 19/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2022, giữa: * Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1984 * Bị đơn: Ông Nguyễn Nhật T, sinh năm 1986 Cùng địa chỉ: Thôn 09, xã O, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 55, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 17 tháng 5 năm 2022.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 17 tháng 5 năm 2022 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Bà Nguyễn Thị N với ông Nguyễn Nhật T. Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị N với ông Nguyễn Nhật T chấm dứt kể từ ngày quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật. 2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: 2.1. Về con chung: Giao 02 người con chung là cháu Nguyễn Đức Nguyên Kh, sinh ngày 23/12/2016 và cháu Nguyễn Đức Minh Kh, sinh ngày 30/01/2021 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. 2.2. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu. 2.3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu. 2.4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: là 150.000 (Một trăm năm mươi nghìn) đồng, bà Nguyễn Thị N tự nguyện nộp. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) mà bà N đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006105 ngày 24 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước. Trả lại cho bà N số tiền tạm ứng án phí 150.000 đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng). 3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ