- Tranh chấp gì? "Người khởi kiện: Ông Lương Ngọc T-Người bị kiện: Ủy ban nhân dân tỉnh B T1"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Lương Ngọc T;
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 37/2020/QĐ-PT |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Đặng Văn Ý
Các Thẩm phán:
Ông Đỗ Đình Thanh
Bà Đinh Ngọc Thu Hương
Tại quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số:
18/2019/QĐST-HC ngày 16 tháng 7 năm 2019, Toà án nhân dân tỉnh B T1 đã căn cứ khoản 5 Điều 38, Điều 143 và Điều 144 của Luật tố tụng hành chính, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” giữa:
1.Người khởi kiện: Ông Lương Ngọc T, sinh năm 1953;
Địa chỉ: Số 19, phố C, thôn Hải X, xã Hải N, huyện Bắc B, tỉnh B T1.
2.Người bị kiện: Ủy ban nhân dân tỉnh B T1
Người đại diện hợp pháp theo pháp luật: Ông Nguyễn Ngọc H- chức vụ:
Chủ tịch UBND tỉnh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện: Ông Đỗ
Minh T2- Luật sư, Cộng tác viên Trung tâm tư vấn pháp luật Hội luật gia tỉnh B T1;
3.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ủy ban nhân dân huyện Bắc B, tỉnh B T1;
Người đại diện hợp pháp theo pháp luật: Ông Lê Văn L- chức vụ: Chủ
tịch UBND huyện Bắc B;
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông Lê Văn L: Ông Đặng
Duy T3- chức vụ: Phó trưởng phòng tài nguyên và Môi trường huyện Bắc B (Văn bản ủy quyền số 2245/QĐ-UBND ngày 06/5/2019 của UBND huyện Bắc B);
3.1. Ủy ban nhân dân xã Hồng T4:
Tại đơn kháng cáo ngày 16 tháng 08 năm 2019, người khởi kiện ông
Lương Ngọc T kháng cáo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số: 18/2019/QĐST-HC ngày 16 tháng 07 năm 2019 của Toà án nhân dân tỉnh B T1, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nói trên.
XÉT THẤY:
. Việc khiếu nại của ông Lương Ngọc T yêu cầu UBND huyện Bắc B,
tỉnh B T1, công nhận diện tích đất 8,2ha cho ông Lương Ngọc T, đã được Chủ tịch UBND huyện Bắc B giải quyết bằng Quyết định số 1131/QĐ-UBND ngày 16/6/2006 và Chủ tịch UBND tỉnh B T1 giải quyết bằng Quyết định số 2254/QĐ-UBND ngày 06/9/2006 đều không chấp nhận khiếu nại của ông Lương Ngọc T và tại khoản 3 Điều 2 Quyết định số 2254/QĐ-UBND ngày 06/9/2006 của Chủ tịch UBND tỉnh B T1 xác định quyết định giải quyết khiếu nại này là quyết định giải quyết cuối cùng (BL: 09). Vì vậy, cấp sơ thẩm xác định yêu cầu khởi kiện hành vi không công nhận diện tích 8,2ha đất của ông Lương Ngọc T đã hết thời hiệu khởi kiện là đúng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 116 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
. Ngày 29/8/2018, ông Lương Ngọc T có đơn yêu cầu Chủ tịch UBND
tỉnh B T1 xem xét lại khoản 3 Điều 2 Quyết định số 2254/QĐ-UBND ngày 06/9/2006 của Chủ tịch UBND tỉnh B T1; nên Chủ tịch UBND tỉnh B T1 ban hành Công văn số 4461/UBND-NC ngày 22/10/2018, trả lời đơn của ông Lương Ngọc T, trong đó xác định Quyết định số 2254/QĐ-UBND ngày 06/9/2006 của Chủ tịch UBND tỉnh B T1 là quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 về lĩnh vực quản lý đất đai, tại khoản 3 Điều 2 của Quyết định ghi:“Quyết định giải quyết khiếu nại này là quyết định giải quyết cuối cùng“ là đúng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 138 Luật đất đai năm 2003. Do đó, Công văn số 4461/UBND-NC ngày 22/10/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh B T1 không phải là quyết định hành chính, như cấp sơ thẩm nhận định là có căn cứ, được quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
. Cấp sơ thẩm đã xác định đơn của ông Lương Ngọc T khởi kiện hành
vi không công nhận diện tích 8,2ha đất đã hết thời hiệu khởi kiện và khởi kiện Công văn số 4461/UBND-NC ngày 22/10/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh B T1 không phải là quyết định hành chính, nên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và đình chỉ giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
Do đó, Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Lương
Ngọc T, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 18/2019/QĐST-HC ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Toà án nhân dân tỉnh B T1, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ.
Ông Lương Ngọc T được miễn án phí hành chính phúc thẩm, vì thuộc
trường hợp người cao tuổi.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 243 Luật Tố tụng hành chính năm
2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 34 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lương Ngọc T;
Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số:
18/2019/QĐST-HC ngày 16 tháng 7 năm 2019 của Toà án nhân dân tỉnh B T1,
2. Về án phí hành chính phúc thẩm: Ông Lương Ngọc T được miễn.
Hoàn trả cho ông Lương Ngọc T số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0029960 ngày 03/9/2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh B T1.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 21 tháng 02 năm 2020.
| Nơi nhận: Tòa án nhân dân tối cao; VKSNDCC tại TP Hồ Chí Minh; TAND tỉnh B T1; VKSND tỉnh B T1; Cục THADS tỉnh B T1; Các đương sự (6); Lưu (3) 11b (QĐ-PTHH). | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đặng Văn Ý |