- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Huỳnh N phạm tội: " Trộm cắp tài sản"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TP. Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 37/2020/HSST Ngày: 26-6-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ Đ Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần C Hoan
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Bá C
Ông Huỳnh Bá Tiến
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân quận N, TP. Đ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N, TP. Đ tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thúy Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N, TP Đ, xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2020/HSST ngày 27 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2020, đối với bị cáo: TRẦN THỊ HUỲNH N - Sinh năm 1990 - Tại VL; nơi ĐKHKTT: Ấp 01 xã Q, huyện VL, tỉnh VL; nghề nghiệp: LĐPT; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn K và bà Nguyễn Thanh H. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa. * Người bị hại: Ông Nguyễn Thành C- Sinh năm 1988 và bà Nguyễn Thị Thu N - Sinh năm 1992 Cùng trú tại: Số 92 Nguyễn Văn Thoại, quận N, TP. Đ – Ông C có mặt, bà N Vắng mặt. * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị Thùy D - Sinh năm 1994 Trú tại: Số 105/8 Phạm Cự Lượng, quận S, TP. Đ – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 06/01/2020, tại quán Hà Thành, địa chỉ số 92 đường Nguyễn Văn Thoại, quận N, TP Đ, vợ chồng ông Nguyễn Thành C và bà Nguyễn Thị Thu N, phát hiện bị mất số tiền 15.000.000đ để trên bàn thờ thần tài trong quán. Sau khi xem hình ảnh từ camera tại quán, phát hiện Trần Thị Huỳnh N (nhân viên của quán) có hành vi trộm cắp nên bà Nguyễn Thị Thu N đến C an phường M, quận N trình báo, đồng thời giao nộp hình ảnh camera tại quán. Tang vật thu giữ:
- Trần Thị Huỳnh N:
+ 01 CMND mang tên Trần Thị Huỳnh N do C an tỉnh Vĩnh Long cấp ngày 21/3/2015;
+ 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Thị Huỳnh N;
+ 01 ĐTDĐ cảm ứng hiệu Huawei màu xanh đen, đã qua sử dụng;
+ Số tiền 86.000 đồng.
- Nguyễn Thành C:
+ 01 đĩa DVD có chứa dữ liệu ghi nhận lại hình ảnh Trần Thị Huỳnh N có hành vi trộm cắp.
Qua điều tra, Trần Thị Huỳnh N khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như sau:
Trần Thị Huỳnh N là nhân viên của quán Đà Thành, địa chỉ số 92 đường Nguyễn Văn Thoại, phường M, quận N, TP Đ do vợ chồng ông Nguyễn Thành C làm chủ. Trong thời gian làm việc tại quán, Như biết ông C thường hay để tiền tại bàn thờ thần tài của quán. Vào cuối tháng 12/2019, do thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên Trần Thị Huỳnh N nảy sinh ý định và thực hiện hành vi trộm cắp tiền mà anh Nguyễn Thành C để tại đây, cụ thể như sau:
+ Ngày 20/12/2019: Khoảng 02h30, N lấy trộm 200.000đ, gồm 04 tờ mệnh giá 50.000đ rồi tiêu xài cá nhân hết.
+ Ngày 27/12/2019: Khoảng 02h30, N lấy trộm 250.000đ, gồm 05 tờ mệnh giá 50.000đ rồi tiêu xài cá nhân hết.
+ Ngày 29/12/2019: Khoảng 02h30, N lấy trộm 150.000đ, gồm 03 tờ mệnh giá 50.000đ rồi tiêu xài cá nhân hết.
+ Ngày 30/12/2019: Khoảng 02h45, N lấy trộm 6.300.000đ, cất vào trong người. Số tiền gồm các loại mệnh giá như sau: 13 tờ mệnh giá 100.000đ, 01 tờ mệnh giá 10.000đ, 02 tờ mệnh giá 20.000đ và 99 tờ mệnh giá 50.000đ. Sau đó, Trần Thị Huỳnh N gặp Bùi Thị Thùy D đưa 4.000.000đ và nói là tiền bạn mượn mới trả nên nhờ D giữ hộ. Số tiền 2.300.000đ còn lại, N đã tiêu xài cá nhân hết.
Với nội dung trên, tại bản cáo trạng số: 38/CT-VKS-NHS ngày 26/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận N, TP. Đ thì bị cáo Trần Thị Huỳnh N bị truy tố về tội: "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N TP. Đ thực hành quyền C tố nhà nước vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố Trần Thị Huỳnh N về tội danh như đã nói trên và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS, xử phạt Trần Thị Huỳnh N từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
* Về vật chứng:
- Đối với 01 đĩa DVD có chứa dữ liệu ghi nhận lại hình ảnh hành vi trộm cắp của Trần Thị Huỳnh N (đã được niêm phong, đóng dấu của Cơ quan CSĐT C an quận N, TP Đ) đề nghị tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
- Đối với 01 CMND; 01 Giấy phép lái xe mang tên Trần Thị Huỳnh N; 01 ĐTDĐ cảm ứng hiệu Huawei màu xanh đen, đã qua sử dụng và 86.000đ thu giữ của Trần Thị Huỳnh N, do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan CSĐT C an quận N, TP Đ đã trả lại cho N là có căn cứ.
* Về dân sự: Sau khi nhận số tiền 6.900.000đ mà Trần Thị Huỳnh N khắc phục, vợ chồng ông Nguyễn Thành C và bà Nguyễn Thị Thu N đã có đơn bãi nại dân sự, không yêu cầu bồi thường, không khiếu kiện gì khác.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án tù treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì nên HĐXX không xem xét.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 20/12/2019 đến ngày 30/12/2019 tại quán Hà Thành, địa chỉ số 92 đường Nguyễn Văn Thoại, phường M, quận N, TP Đ, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, Trần Thị Huỳnh N đã thực hiện hành vi trộm cắp 6.900.000đ của vợ chồng ông Nguyễn Thành C và bà Nguyễn Thị Thu N.
Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Thị Huỳnh N đã xâm hại đến khách thể là quyền sở hữu của người khác về tài sản được pháp luật bảo vệ, phạm vào tội: "Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng số 38/CT-VKS-NHS ngày 26/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận N đã truy tố và đề nghị mức hình phạt như trên đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:
Trần Thị Huỳnh N là người có đầy đủ năng lực hình sự, có trình độ học vấn. Lẽ ra, bị cáo phải cố gắng phấn đấu rèn luyện bản thân để trở thành C dân tốt. Nhưng bị cáo đã không làm được điều đó và muốn thỏa mãn nhu cầu cá nhân bằng thành quả lao động của người khác nên bị cáo đã đi vào con đường phạm tội. Trong vụ án, bị cáo đã nhiều lần lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của người bị hại, đã trộm cắp của vợ chồng ông Nguyễn Thành C và bà Nguyễn Thị Thu N 6.900.000đ.
Hành vi của bị cáo không những gây thiệt hại về tài sản cho người bị hại mà còn làm mất trật tự an ninh tại địa phương. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.
Song xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi xảy ra vụ án, bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền cho người bị hại, người bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm b, i ,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Từ những nhân định trên, xét thấy không cần thiết phải xử cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà cần áp dụng Điều 65 BLHS tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo tại địa phương thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bản thân bị cáo cũng là thỏa đáng.
- Đối với Bùi Thị Thùy D, dù đã nhận số tiền 4.000.000đ là tài sản trộm cắp từ Trần Thị Huỳnh N. Tuy nhiên, D không biết đây là tiền do Như trộm cắp mà có. Cơ quan CSĐT Công an quận N, TP Đ không đề cập xử lý là có cơ sở.
* Về vật chứng:
- Đối với 01 CMND; 01 Giấy phép lái xe mang tên Trần Thị Huỳnh N; 01 ĐTDĐ cảm ứng hiệu Huawei màu xanh đen đã qua sử dụng và 86.000đ thu giữ của Trần Thị Huỳnh N, do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan CSĐT Công an quận N, TP Đ đã trả lại cho N là có căn cứ.
- Đối với 01 đĩa DVD có chứa dữ liệu ghi lại hình ảnh hành vi trộm cắp của Trần Thị Huỳnh N (đã được niêm phong, đóng dấu của Cơ quan CSĐT C an quận N, TP Đ) xét thấy cần tuyên tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
* Về dân sự: Sau khi nhận số tiền 6.900.000đ mà Trần Thị Huỳnh N khắc phục, vợ chồng ông Nguyễn Thành C và bà Nguyễn Thị Thu N không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Huỳnh N phạm tội: " Trộm cắp tài sản"
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Huỳnh N 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án, ngày 26/6/2020.
Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân xã Q, huyện VL, tỉnh VL quản lý, giáo dục trong suốt thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo
[2] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD có chứa dữ liệu ghi lại hình ảnh hành vi trộm cắp của Trần Thị Huỳnh N.
[3] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Án xử C khai sơ thẩm, báo cho những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa biết, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Riêng những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND quận NHS; - VKSND TP. Đ; - C an quận NHS; - C an trại tạm giam Tp Đ; - Chi cục THADS quận NHS; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần C Hoan |