- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người bị mất năng lực hành vi dân sự"
- Tòa quyết gì? Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 376, Điều 378 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 37/2019/QĐST-VDS | Buôn Ma Thuột, ngày 13 tháng 8 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu tuyên bố một người bị mất năng lực hành vi dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Ông Trần Đại Minh.
Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Hồng Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên họp: Ông Y Lương Byă – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 18/2019/TLST-VDS ngày 10/6/2019 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Lê Viết S, sinh năm 1941 (Vắng mặt ) và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1955 (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn A, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền của Người yêu cầu giải quyết việc dân sự ông Lê Viết S: Ông Hà Thanh V, sinh năm 1990 (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Viết D– Sinh năm 1986
Địa chỉ: Thôn A, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, (Vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
- Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự; Bản tự khai; Biên bản lấy lời khai của bà Nguyễn Thị X và người đại diện theo ủy quyền của Người yêu cầu giải quyết việc dân sự ông Lê Viết S: Ông Hà Thanh V đều trình bày:
Anh Lê Viết D, sinh năm 1986 là con ruột của ông Lê Viết S và bà Nguyễn Thị X, anh Lê Viết D không có vợ con. Anh Lê Viết D sinh ra và lớn lên phát triển bình thường nhưng đến năm 1997 thì bắt đầu có biểu hiện phát bệnh tâm thần nặng, cụ thể anh D có những biểu hiện như không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, không biết mình là ai, bỏ nhà đi lang thang, mọi sinh hoạt cá nhân đều do gia đình chăm sóc..... có giấy xác nhận khuyết tật số 0500/6664324160/0074 ngày 31/3/2014 của Ủy ban nhân dân xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Gia đình đưa anh D đi khám và điều trị nhiều nơi nhưng không khỏi. Hiện nay tình trạng của anh Lê Viết D không có khả năng nhận thức, không làm chủ được hành vi của mình, mọi sinh hoạt cá nhân phải có người trong gia đình giúp đỡ và đang ở nhà ông Lê Viết S, bà Nguyễn Thị X trực tiếp chăm sóc tại Thôn A, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Nay ông Lê Viết S và bà Nguyễn Thị X yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Lê Viết D là người mất năng lực hành vi dân sự.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột phát biểu có ý kiến:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự, lời khai của người yêu cầu và qua kết quả giám định pháp y tâm thần của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên kết luận: Anh Lê Viết D; Sinh năm 1986; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn A, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, bị bệnh: Sa sút tâm thần do bệnh lý viêm não ( F02.8-ICD10) hiện tại mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi. Như vậy việc ông Lê Viết S và bà Nguyễn Thị X yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Lê Viết D mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi dân sự là có căn cứ cần chấp nhận.
Đề nghị Tòa án: Áp dụng khoản 1 Điều 22 Bộ luật dân sự. Chấp nhận đơn của người yêu cầu, tuyên bố anh Lê Viết D là người mất khả năng hành vi dân sự. Căn cứ Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ngươi yêu cầu phải chịu tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ông S, bà X yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố anh Lê Viết D mất năng lực hành vi dân sự, đây là việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”. Người yêu cầu cư trú Thôn A, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Về yêu cầu của đương sự: Ông Lê Viết S và bà Nguyễn Thị X yêu cầu Toa án tuyên bố anh Lê Viết D là người mất năng lực hành vi dân sự và có đơn đề nghị Tòa án trưng cầu giám định sức khỏe, bệnh tật và năng lực hành vi dân sự đối với anh Lê Viết D. Ngày 05/7/2019 Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 10/2019/QĐ-TA trưng cầu Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên tiến hành giám định sức khỏe, bệnh tật và năng lực hành vi dân sự của anh Lê Viết D. Ngày 18 tháng 7 năm 2019, Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên đã có Kết luận giám định pháp y tâm thần số 82/KLGĐTC kết luận:
- Về y học: Hiện tại đương sự sa sút tâm thần do bệnh lý viêm não ( F02.8-ICD10).
- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hiện tại đương sự mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi.
Từ các tài liệu, chứng cứ nêu trên, xét thấy việc ông Lê Viết S và bà Nguyễn Thị X yêu cầu tuyên bố anh Lê Viết D là người mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 22 của Bộ luật dân sự nên cần chấp nhận.
Về tiền chi phí giám định và lệ phí:
Về tiền chi phí giám định: Ông Lê Viết S và bà Nguyễn Thị X đã nộp trực tiếp cho cơ quan giám định nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
Về lệ phí: Ông Lê Viết S và bà Nguyễn Thị X phải chịu tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 376, Điều 378 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 22 của Bộ luật dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của ông Lê Viết S và bà Nguyễn Thị X.
Tuyên bố: Anh Lê Viết D, sinh năm 1986 là người mất năng lực hành vi dân sự.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:
Ông Lê Viết S, bà Nguyễn Thị X phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí việc dân sự, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng lệ phí ông S đã nộp (ông Hà Thanh V nộp thay) theo biên lai thu số AA/2019/0001630 ngày 31 tháng 5 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Người yêu cầu có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Người yêu cầu; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hoặc kể từ ngày Quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP.BMT; - VKSND tỉnh ĐắkLắk; - TAND tỉnh ĐắkLắk; - Chi cục THA DS B; - Các đương sự; - Lưu: HS vụ án. | THẨM PHÁN (Đã ký) Trần Đại Minh |